vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim Th được ly hôn với anh Trần Hoàng G.

Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Huỳnh A (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/12/2020 cho chị Nguyễn Thị Kim Th tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Anh Trần Hoàng G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim Th được ly hôn với anh Trần Hoàng G.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 – 01 – 2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Út

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Thuận, là Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2023/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm: 1997 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T 1, xã L, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Hoàng G, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2019 chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G tổ chức lễ cưới, đến ngày 11/6/2019 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Lúc đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường bất đồng quan điểm, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G có 01 con chung, tên Trần Nguyễn Huỳnh A (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/12/2020, hiện đang sống chung với chị Nguyễn Thị Kim Th.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim Th yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hoàng G, con chung chị Nguyễn Thị Kim Th yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Huỳnh A, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Hoàng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn anh Trần Hoàng G.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu G phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Hoàng G chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Th, cho chị Nguyễn Thị Kim Th được ly hôn với anh Trần Hoàng G.

Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Huỳnh A (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/12/2020 cho chị Nguyễn Thị Kim Th tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị Kim Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Trần Hoàng G không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Trần Hoàng G đều vắng mặt nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G có hay không. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Th phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Hoàng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Trần Hoàng G.

Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị Nguyễn Thị Kim Th tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G đã đăng ký kết hôn tại kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 11/6/2019, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim Th, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng của chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G rất hạnh phúc và đã có con chung, nhưng đến năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị đã ly thân cho đến nay. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim Th cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hoàng G. Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G là trầm trọng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chị Nguyễn Thị Kim Th yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hoàng G là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G có 01 con chung, tên cháu Trần Nguyễn Huỳnh A (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/12/2020 hiện đang sống chung với chị Nguyễn Thị Kim Th. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Kim Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Huỳnh A. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Trần Nguyễn Huỳnh A chưa đủ 07 tuổi nên chưa ghi nhận được ý kiến nguyện vọng của cháu mong muốn được sống chung với ai. Anh Trần Hoàng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xem như anh Trần Hoàng G từ bỏ quyền yêu cầu xin được nuôi con chung. Qua biên bản xác minh của Tòa án thì hiện tại chị Nguyễn Thị Kim Th là người có đủ điều kiện chăm sóc cho cháu Trần Nguyễn Huỳnh Anh. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Trần Nguyễn Huỳnh A nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thống nhất giao cháu Trần Nguyễn Huỳnh Anh cho chị Nguyễn Thị Kim Th tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Trần Hoàng G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Trần Hoàng G đều vắng mặt. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của anh Trần Hoàng G nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G có hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Th phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim Th được ly hôn với anh Trần Hoàng G.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Huỳnh A (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/12/2020 cho chị Nguyễn Thị Kim Th tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Trần Hoàng G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho chị Nguyễn Thị Kim Th và anh Trần Hoàng G thành vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Th được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 31/2023/Q3 ngày 11 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Trần Hoàng G vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ