- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung - NĐ: Lưu Hoài Trung- BĐ: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Hoài T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ______________ Bản án số: 05/2024/HNGĐ-PT Ngày: 23/02/2024 V/v Tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Hải
Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng;
Ông Nguyễn Hoàng Thám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung và tài sản chung”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 163/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lưu Hoài T, sinh năm 1986 (có mặt);
Nơi cư trú: Số 100, đường N T P, khóm 3, p 1, thị xã G R, tỉnh B L.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Hồ Hoàng P, Văn phòng Luật sư Hồ Hoàng P – Đoàn Luật sư tỉnh An Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1992 (có mặt).
Nơi cư trú: Số 560/28, khóm B K 4, phường B K, thành phố L X, tỉnh A G.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lưu Hoài T trình bày:
- Về hôn nhân: Ông T và bà H tự quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 204 ngày 21 tháng 11 năm 2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà H không chung thủy, có người đàn ông khác bên ngoài nên vợ chồng xảy ra cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà H, vì cả hai có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn.
- Về con chung: Ông T và bà H có 01 con chung tên Lưu Hoài C, sinh ngày 26/6/2019, hiện đang sống với ông T. Khi ly hôn, ông T yêu cầu được nuôi con. Về cấp dưỡng: Ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Theo tờ tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Thống nhất với ông T về thời gian tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và mẫu thuẫn vợ chồng nên việc ông T yêu cầu ly hôn thì bà H đồng ý.
- Về con chung: có 01 con tên Lưu Hoài C, sinh ngày 26/6/2019, hiện đang sống với ông T. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 163/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lưu Hoài T và bà Nguyễn Thị Mỹ H. Quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Ông T và bà H có 01 con tên Lưu Hoài C, sinh ngày 26/6/2019. Bà H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông T có trách nhiệm giao cháu C cho bà H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.
- Về cấp dưỡng: Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà H không yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 30/11/2023 ông Lưu Hoài T có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét cho ông được tiếp tục nuôi dưỡng chắm sóc con chung là cháu Lưu Hoàng C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Lưu Hoài T vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của ông.
Luật sư trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Chúng tôi mong Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lưu Hoài T; xét về tâm sinh lý cháu Lưu Hoài C hiện tại sống ổn định, sức khỏe tốt và cháu cũng đang được cho đi học lớp lá Trường Mẫu giáo Sơn Ca 2, ở thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, nên tiếp tục giao cháu cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp.
Nguyên đơn trình bày bổ sung: Con ông đã sống ổn định và hiện tại con ông cũng đã được đi học, có cuộc sống tốt, nên xin được tiếp tục nuôi con.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận kháng cáo của ông T. Bà hiện tại đã có cuộc sống ổn định, sống bằng nghề mua bán ở hai nơi, chợ Bình Khánh và chợ Sao Mai, nên được gần con và sẽ chăm sóc con tốt hơn anh T.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
Qua hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, cho thấy cháu Lưu Hoài C đã sống ổn định, có sức khỏe tốt và đã được cho đi học Trường Mẫu giáo Sơn Ca 2. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của ông Lưu Hoài T. Sửa án sơ thẩm theo hướng cho anh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lưu Hoài C. Ông T cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo khí nghị vẫn được giữ nguyên, ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Lưu Hoài T kháng cáo trong hạn luật định và có nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Về quan hệ hôn nhân, anh T và chị H đều xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên không cùng quan điểm sống, tình cảm dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cấp sơ thẩm công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Lưu Hoài T và bà Nguyễn Thị Mỹ H là phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Các đương sự không có kháng cáo nên đã có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Lưu Hoài T thấy rằng: Ông T và bà H thống nhất vợ chồng có 1 con chung tên Lưu Hoài C, sinh ngày 26/6/2019. Ông T và bà H cũng thống nhất cháu C từ nhỏ đã chung sống cùng cha mẹ nhưng từ tháng 2/2023 ông T tự ý đưa cháu C về Bạc Liêu sinh sống cho tới nay mà không thống qua ý kiến bà H. Sau khi ly hôn, ông T và bà H đều yêu cầu được nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T và bà H đều cung cấp được chứng cứ chứng minh thu nhập của bản thân, trình bày được điều kiện chăm sóc tốt cho cháu C. Việc ông T tự ý bắt con về Bạc Liêu mà không hỏi ý kiến của và chưa được sự đồng ý của bà H, là việc làm không đúng của ông T; tuy nhiên từ khi cháu C về sống cùng với ông T đến nay cháu C đã được ông T chăm sóc và bé đang theo học mẫu giáo tại địa phương, điều này thấy rằng cháu đang có cuộc sống ổn định và có một môi trường sống, vui chơi lành mạnh. Nếu buộc anh T giao cháu C về sống cùng mẹ đối với một đứa bé chưa được tròn 6 tuổi không phải dể dàng hòa nhập và có khả năng sẽ làm xáo trộn cuộc sống của cháu C. Hiện tại, cháu C đã quen với điều kiện, môi trường sống và được anh Trung nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo trong điều kiện tốt nhất; nếu giao cháu Công cho chị Hạnh nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Do đó, cấp sơ thẩm quyết định giao con chung là cháu Lưu Hoài C, sinh ngày 26/6/2019 cho bà Nguyễn Thị Mỹ H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. [4] Theo những phân tích trên, HĐXX phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; yêu cầu kháng cáo của ông T; sửa bản án sơ thẩm; giao cháu Lưu Hoài C, sinh ngày 26/6/2019 cho ông Lưu Hoài T, được tiếp tục nuôi dưỡng. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. [5] Về án phí: [5.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lưu Hoài T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm [5.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông Trung không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lưu Hoài T. Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 163/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, điểm b khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Hoài T.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Lưu Hoài T và bà Nguyễn Thị Mỹ H. Giấy chứng nhận kết hôn số 204 ngày 21/11/2017 của Ủy ban nhân dân phường BÌnh Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
- Về nuôi con chung: Ông Lưu Hoài T được tiếp tục nuôi con chung tên Lưu Hoài C, sinh ngày 26/6/2019. Bà Nguyễn Thị Mỹ H không phài cấp dưỡng nuôi con chung do ông T không có yêu cầu.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyên đơn Lưu Hoài T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002313 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Nguyên đơn đã thực hiện xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyên đơn Lưu Hoài T không phải chịu án phí, được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001211 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN
| Lâm Thuận Tùng Nguyễn Hoàng Thám Trần Minh Hải | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |