- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tô Như Y- HƯƠNG"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Như Y.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 155 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/DS - ST Ngày 28/5/2024 “V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản là tiền cho vay” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Khương Đặng Khánh Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bằng
Ông Nguyễn Xuân Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76 /2023/TLST - DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản là tiền cho vay”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST- DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Tô Như Y, sinh năm 1957 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
Bị đơn: Ông Dương Quỳnh H, sinh năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Th, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Th, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Tô Như Y trình bày: Ông và ông Dương Quỳnh H không có quan hệ anh em họ hàng, chỉ là người quen biết xã hội và sinh sống tại xã L, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 17 tháng 8 năm 2016 ông có cho ông H vay số tiền 50.000.000 đồng mục đích để ông H mua cá giống đầu tư phát triển kinh tế tại hồ Suối Sải. Khi cho vay ông H trực tiếp viết giấy vay tiền thỏa thuận vay số tiền 50.000.000 đồng, không tính lãi và hẹn đến ngày 30 tháng 02 năm 2017 ông H trả toàn bộ tiền vay. Ông xác định số tiền cho ông H vay là của vợ chồng ông, không liên quan đến các con. Đến thời hạn trả nợ nhưng ông H không trả được tiền cho vợ chồng ông. Sau đó ông Ý đã nhiều lần yêu cầu ông H trả tiền nhưng vợ chồng ông H khất lần và ông xác định ông H mới trả được 5.000.000 đồng, còn nợ lại 45.000.000 đồng. Nay ông khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sông Lô giải quyết buộc ông H, bà Ng phải trả cho vợ chồng ông số tiền vay 45.000.000 đồng và ông tự nguyện không đề nghị tính lãi đối với số tiền cho ông H vay cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị đơn ông Dương Quỳnh H trình bày: Về mối quan hệ xã hội giữa ông và ông Tô Như Y như ông Y trình bày là đúng. Ngày 17 tháng 8 năm 2016 ông đến nhà ông Y để hỏi vay số tiền 50.000.000 đồng mục đích đầu tư mua cá giống chăn nuôi ở hồ Suối Sải. Khi vay tiền hai bên có viết giấy vay tiền thỏa thuận nội dung số tiền vay 50.000.000 đồng, thời hạn vay 6 tháng và không tính lãi. Sau khi vay, ông đã trả 5.000.000 đồng và còn nợ lại 45.000.000 đồng. Do điều kiện thiên tai, ngập lụt nên bị mất hết cá, kinh tế gặp nhiều khó khăn nên ông không trả được tiền cho ông Y. Nay ông Ý khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải trả số tiền 45.000.000 đồng thì ông đồng ý nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông xin trả số tiền trên thành 15 lần trả, mỗi lần trả 3.000.000 đồng trả vào ngày 30 hàng tháng. Thời điểm bắt đầu trả tiền là tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có quan điểm trình bày: Bà xác nhận việc chồng bà là ông Dương Quỳnh H có nợ tiền của ông Tô Như Y nhưng bà xác định việc vay và trả nợ là trách nhiệm của ông H, không liên quan đến bà và các con.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có quan điểm trình bày: Bà đồng ý với quan điểm của chồng bà là Tô Như Y trình bày và không có ý kiến bổ sung gì thêm. Do công việc nên bà đã làm đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt bà.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xác định đúng quan hệ pháp luật và bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử cũng như chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166; Điều 280 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/YBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông H và bà Ng phải trả nợ cho vợ chồng ông Ý số tiền 45.000.000 đồng và đề nghị giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Điệp có đơn xét xử vắng mặt, bà Nguyên vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyên và bà Điệp.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Trong vụ án này bị đơn là cá nhân sinh sống tại xã Lãng Công, huyện Sông Lô; Nội dung thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn là vay tiền, có giấy xác nhận nợ, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đòi lại số tiền cho vay nên Tòa án xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp kiện đòi tài sản là tiền cho vay”. Tòa án căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.
Về thời hiệu khởi kiện: Việc vay nợ giữa nguyên đơn và bị đơn diễn ra từ năm 2016. Sau đó nguyên đơn nhiều lần yêu cầu nhưng bị đơn không trả nợ. Đây là vụ án tranh chấp về tài sản, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật dân sự và Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông H, bà Ng phải có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông số tiền vay 45.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cung cấp giấy vay tiền ngày 17/8/2016 thể hiện nội dung ngày 17/8/2016 nguyên đơn đã cho bị đơn vay số tiền 50.000.000 đồng, mục đích mua cá giống chăn nuôi tại hồ Suối Sải và sau đó bị đơn đã trả được cho nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng. Xét giấy vay tiền giữa ông Ý và ông H có chữ ký của ông H là hợp pháp. Khi viết giấy vay tiền các đương sự đều có đủ năng lực hành vi dân sự. Theo nội dung giấy vay tiền thể hiện ông H nhận nợ với vợ chồng ông Ý số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng và không tính lãi. Tại phiên tòa bị đơn cũng thừa nhận có vay bị đơn số tiền đúng như giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp. Như vậy tại thời điểm 17/8/2016 ông Y và ông H xác nhận bằng việc viết giấy vay tiền thì phát sinh nghĩa vụ trả nợ. Khi đến hạn trả nợ và ông Ý đã nhiều lần yêu cầu ông H trả nợ. Xét thấy đây là tranh chấp kiện đòi tài sản phát sinh từ giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn. Việc bị đơn xác định do điều kiện làm ăn gặp thiên tai, kinh tế gặp khó khăn nên bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên có nghĩa vụ.
Quá trình giải quyết vụ án bà Ng xác định đây là khoản nợ riêng của ông H và bà Ng không biết việc ông H vay tiền của ông Ý, cũng như mục đích ông H vay tiền để làm gì và không liên quan. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông H xác định số tiền vay của ông Ý được dùng vào việc mua thả cá giống tại hồ Suối Sải để phát triển kinh tế gia đình là phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tại thời điểm năm 2010 ông H có ký hợp đồng thầu hồ Suối Sải với công ty TNHH Một thành viên công ty thủy lợi Lập Thạch thì bà Ng và ông H đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp và hiện nay vợ chồng vẫn đang chung sống hòa thuận. Ông H xác nhận việc đầu tư thả cá mặt nước hồ Suối Sải mỗi khi thu hoạch cá bà Ng trực tiếp bán cá thu tiền để chi tiêu cho sinh hoạt gia đình. Mặt khác tại phiên tòa nguyên đơn cũng xác nhận khi đến nhà bị đơn đòi nợ thì bà Ng Là vợ ông H đều đứng ra khất nợ. Do vậy căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 288 Bộ luật dân sự, xác định nghĩa vụ trả nợ nêu trên là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng ông H và bà Ng thì ông H, bà Ng phải có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho ông Ý, bà Đ.
Do vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 166, Điều 280 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông H, bà Ng phải trả cho ông Ý, bà Đ số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).
Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu bị đơn phải trả lãi cho khoản vay từ ngày vay cho đến thời điểm xét xử là tự nguyện nên cần chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông H, bà Ng phải chịu án phí tương ứng với số tiền phải trả. Tuy nhiên hiện nay cả ông H và bà Ng đều là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 166; Điều 280; Điều 288; Điều 155; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 184; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Như Y.
1.Buộc ông Dương Quỳnh H và bà Nguyễn Thị Ng phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Tô Như Y và bà Vũ Thị Đ số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Y, bà Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H, bà Ng không tự nguyện thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
2.Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H và bà Ng được miễn án phí theo quy định.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân huyện Sông Lô;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS huyện Sông Lô;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
Khương Đặng Khánh Hằng
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Khương Đặng Khánh Hằng
| Nơi nhận: THẨM - Viện kiểm sát nhân huyện Sông Lô; - Chi cục THADS huyện Sông Lô; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. Các Hội thẩm nhân dân Toà Nguyễn Đức Túc Nguyễn Thị Hiền | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khương Đặng Khánh Hằng Thẩm phán - Chủ toạ phiên Khương Đặng Khánh Hằng |