vanban.org

Bản án 05/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Vĩnh Thạnh đối với bị đơn bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1. Buộc bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 có trách nhiệm thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân V tổng số tiền 19.708.790 đồng (mười chín triệu bảy trăm lẻ tám ngàn bảy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/DS-ST
Ngày: 05- 02- 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Đào.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Sậm;

2. Bà Lê Bảo Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Khổng Phúc Vĩnh Nhật- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân V

Địa chỉ: ấp V, thị trấn V, huyện V, TP Cần Thơ

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành L-Chủ tịch hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn T, 1992- Nhân viên. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện V, TP Cần Thơ

2. Bị đơn: Bà Trần Thị G, sinh năm 1977. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ông Phạm Tùng T1, sinh năm 1973. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện V, TP Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Vĩnh Thạnh có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn T trình bày và yêu cầu giải quyết như sau: Quỹ tín dụng nhân dân V (viết tắt là Quỹ tín dụng) có cho bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 vay số tiền 25.000.000 đồng theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 43/2021/HĐ-QTDVT ngày 03/02/2021, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất vay trong hạn 21,6%/năm, trả nợ gốc và lãi hàng tháng vào ngày 03 tây, mục đích vay là tiêu dùng, vay tiền theo hình thức tín chấp, không có tài sản đảm bảo. Từ khi vay đến nay bị đơn đã trả được nợ gốc 18.255.348 đồng (trong đó nợ gốc 10.451.352đ và nợ lãi 7.803.996đ). Tính đến ngày 16/10/2023 bị đơn còn nợ gốc là 14.548.648 đồng và lãi phát sinh. Quỹ tín dụng đã nhiều lần làm việc, thông báo nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thực hiện, vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Quỹ tín dụng. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho Q tín dụng số tiền nợ gốc là 14.548.648 đồng và nợ lãi phát sinh theo hợp đồng mà bị đơn đã ký.

Bị đơn bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 có yêu cầu xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày như sau: Bà G và ông T1 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc có vay tiền và tính tới thời điểm hiện tại bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn 14.548.648 đồng và lãi suất phát sinh chưa thanh toán. Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn đồng ý trả nợ gốc số tiền 14.548.648 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký. Việc vay tiền thì ông bà đều sử dụng vào mục đích sinh hoạt tiêu dùng phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong gia đình. Do bận đi làm thuê ở xa nên ông bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn có yêu cầu xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được đã chứng minh được bị đơn có vay tiền và hiện vẫn còn nợ của Quỹ tín dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 chịu trách nhiệm trả cho Q tín dụng số tiền nợ gốc 14.548.648 đồng và 5.160.142 đồng nợ lãi tính đến ngày 05/02/2024 cùng tiền lãi phát sinh từ ngày 06/02/2024 cho đến khi trả xong nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân V khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 phải có trách nhiệm thanh toán gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký, do bà G và ông T1 không có đăng ký kinh doanh nên là vụ án dân sự, quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn bà G và ông T1 có nơi cư trú tại ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ căn cứ vào các Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt. Nên căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà G và ông T1 là phù hợp.

Về nội dung vụ án: Theo hồ sơ thể hiện nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng tín dụng trên tinh thần tự nguyện, đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hình thức, nội dung của hợp đồng theo quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Đồng thời có ký kết cả giấy đề nghị rút tiền vay kiêm giấy nhận nợ ngày 03/02/2021 thể hiện bị đơn có ký xác nhận đã nhận số tiền vay 25.000.000 đồng. Từ ngày 03/02/2023 đến nay bị đơn không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng về việc trả gốc và lãi theo thời hạn quy định dẫn đến khoản vay bị quá hạn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nay Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà G và ông T1 có trách nhiệm trả cho Q Tín dụng nợ gốc 14.548.648 đồng và 5.160.142 đồng nợ lãi tính đến ngày 05/02/2024 cùng tiền lãi phát sinh từ ngày 06/02/2024 cho đến khi trả xong nợ theo lãi suất của Hợp đồng tín dụng mà bị đơn đã ký. Bị đơn đồng ý trả nợ gốc và lãi theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên chưa thể thanh toán cho nguyên đơn thời điểm này.

Xét thấy, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình và bị đơn cũng thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn là đúng. Do đó, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên là có cơ sở chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền 19.708.790 đồng. Trong đó, nợ gốc 14.548.648 đồng và 5.160.142 đồng nợ lãi tính đến ngày 05/02/2024 cùng tiền lãi phát sinh từ ngày 06/02/2024 cho đến khi trả xong nợ cho nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 348 và Điều 351 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Vĩnh Thạnh đối với bị đơn bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1.

1. Buộc bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 có trách nhiệm thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân V tổng số tiền 19.708.790 đồng (mười chín triệu bảy trăm lẻ tám ngàn bảy trăm chín mươi đồng). Trong đó nợ gốc 14.548.648 đồng và 5.160.142 đồng nợ lãi (tính đến ngày 05/02/2024).

Bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 còn phải chịu lãi phát sinh tính từ ngày 06/02/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 43/2021/HĐ-QTDVT ngày 03/02/2021 đã ký kết.

3. Về án phí: Bà Trần Thị G và ông Phạm Tùng T1 phải nộp 985.000 đồng (chín trăm tám mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Quỹ tín dụng nhân dân V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 420.000 đồng (Bốn trăm hai mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003017 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ