- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng - B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (V1).
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 05/2024/DS-ST Ngày: 26-01-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Dưỡng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Văn Vũ Biên Cương;
Ông Đào Hồng Kiệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Hậu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2023 và ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 277/2022/TLST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1).
Địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thu H, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Quản lý nợ Ngân hàng B1 – Khối Ngân hàng bán lẻ V1.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thu H:
1/ Ông (Bà) Bùi Đăng D – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q.
2/ Ông (Bà) Phan Văn C – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q.
3/ Ông (Bà) Nguyễn Đại A – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q.
4/ Ông (Bà) Vương Hải L – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q.
Cùng địa chỉ liên lạc: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Trần Lý B, sinh năm 2002.
Nơi thường trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông Nguyễn Đại A có mặt tại phiên tòa, ông (bà) Bùi Đăng D, ông (bà) Phan Văn C, ông (bà) Vương Hải L, ông Trần Lý B đều vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ngƣời đại diện của nguyên đơn trình bày: Ông Trần Lý B có ký với Ngân hàng TMCP Q (V1) – Chi nhánh G – Phòng G1 Hợp đồng tín dụng số: 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 để vay số tiền 740.000.000 đồng, mục đích vay là thanh toán mua 01 xe nhãn hiệu FORD, thời hạn vay là 84 tháng, lãi suất theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số: 2031841.21 ngày 30-6-2021, tài sản bảo đảm nhãn hiệu: FORD, loại xe: Xe ≤ 9 chỗ, số loại: RANGER WILDTRAK 4x4, số khung: MNCUMFF60MW149886, số máy: YN2QWM149886. Sau khi được cấp tín tín dụng, ông B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và qua nhiều lần làm việc, nhắc nhỡ nhưng ông B vẫn không có thiện chí trả nợ nên VIB khởi kiện yêu cầu ông B trả cho V1 số tiền dư nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 là 731.191.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26-01-2024 là 331.130.094 đồng (trong đó: tiền lãi trong hạn là 22.806.882 đồng, tiền lãi quá hạn là 308.323.212 đồng) và tiếp tục chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 cho đến khi thanh toán xong; không yêu cầu giải quyết tài sản bảo đảm.
Bị đơn Trần Lý B: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có gửi văn bản ý kiến cho Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, riêng bị đơn Trần Lý B vắng mặt tất cả các phiên hòa giải và phiên tòa, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Về việc giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP Q1 (V1) căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 yêu cầu ông Trần Lý B trả cho V1 tổng số tiền tính đến ngày 26-01-2024 là 1.062.321.094 đồng (trong đó: gốc là 731.191.000 đồng, lãi trong hạn là 22.806.882 đồng, lãi quá hạn là 308.323.212 đồng) và tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn cho đến khi trả nợ xong.
Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản hợp lệ theo địa chỉ mà ông B cung cấp cho V1 ghi trong hợp đồng tín dụng, nhưng ông B vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Theo điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì ông Trần Lý B thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định. Căn cứ vào Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Trần Lý B có nghĩa vụ trả cho V1 tổng số tiền tính đến ngày 26-01-2024 là 1.062.321.094 đồng (trong đó: gốc là 731.191.000 đồng, lãi trong hạn là 22.806.882 đồng, lãi quá hạn là 308.323.212 đồng) và tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn cho đến khi trả nợ xong.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Không yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vắng mặt không có lý do nên tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (V1) khởi kiện yêu cầu bị đơn Trần Lý B trả cho nguyên đơn số tiền dư nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 là 731.191.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26-01-2024 là 331.130.094 đồng (trong đó: tiền lãi trong hạn là 22.806.882 đồng, tiền lãi quá hạn là 308.323.212 đồng) và tiếp tục chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 cho đến khi thanh toán xong; không yêu cầu giải quyết tài sản bảo đảm.
Xét thấy: Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 mà ông Trần Lý B đã ký với Ngân hàng TMCP Q là có thật, nội dung các bên thỏa thuận xuất phát từ sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Ông Trần Lý Bằng k thanh toán nợ theo thỏa thuận mà các bên đã ký kết nên VIB khởi kiện yêu cầu ông B trả các khoản nợ như nêu trên là có căn cứ.
Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn Trần Lý B và việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đảm bảo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn Trần Lý Bằng không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh:
“2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
…
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Đồng thời tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:
“2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Ông Bằng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến, tài liệu, chứng cứ gì, cũng như không đến Tòa án trình bày ý kiến gì để phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn nên ông B phải chịu hậu quả cho việc không chứng minh, không phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Vậy nên chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn Trần Lý B trả số tiền nợ như nêu trên là phù hợp với quy định tại các điều 91, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Từ những phân tích trên, chứng tỏ yêu cầu khởi kiện Ngân hàng TMCP Q là có căn cứ nên chấp nhận, buộc ông Trần Lý B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 là 731.191.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26-01-2024 là 331.130.094 đồng (trong đó: tiền lãi trong hạn là 22.806.882 đồng, tiền lãi quá hạn là 308.323.212 đồng) và tiếp tục chịu lãi kể từ ngày 27-01-2024 theo Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 cho đến khi thanh toán xong.
Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Trong vụ án này bị đơn Trần Lý B có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 1.062.321.094 đồng nên có nghĩa vụ phải chịu 36.000.000 đồng + 3% x 262.321.094 đồng = 43.869.632 đồng, làm tròn là 43.870.000 đồng (Bốn mươi ba triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí; Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí nên được nhận lại 17.615.000 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (do Nguyễn Hữu Đ nộp thay) theo Biên lai thu số: 0011077 ngày 30-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Xét thấy phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 5, 26, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 227, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các điều 91, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (V1).
Buộc ông Trần Lý B có nghĩa trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 là 731.191.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26-01-2024 là 331.130.094 đồng (trong đó: tiền lãi trong hạn là 22.806.882 đồng, tiền lãi quá hạn là 308.323.212 đồng) và tiếp tục chịu lãi kể từ ngày 27-01-2024 theo Hợp đồng tín dụng số 2031841.21 ngày 30-6-2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4516411.21 ngày 30-6-2021 cho đến khi thanh toán xong.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Lý B có nghĩa vụ chịu 43.870.000 đồng (Bốn mươi ba triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí.
Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí nên được nhận lại 17.615.000 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (do Nguyễn Hữu Đ nộp thay) theo Biên lai thu số: 0011077 ngày 30-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
3. Đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26-01-2024). Riêng bị đơn Trần Lý B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Tân Hồng; - CC THADS huyện Tân Hồng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Dƣỡng |