- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng Agribank - Nguyễn Văn H, Phạm Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam:
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/KDTM-ST Ngày 29-9-2023 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Duy Việt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Phạm Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Khắc Thành Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số 02/2023/TLST-KDTM ngày 24 tháng 5 năm 2023, về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST- KDTM ngày 24 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/QĐST-KDTM ngày 12 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; địa chỉ: Số 2 Láng Hạ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn Vượng – Chức vụ: Tổng Giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Nga – Chức vụ: Giám đốc Phòng Giao dịch An Cầu - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Vĩnh Bảo Đông Hải Phòng (Giấy ủy quyền ngày 07-4-2023); có mặt.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Đ; cùng trú tại: Thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt (có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam bà Phạm Thị Nga trình bày: Ngày 16-11-2021, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ đã ký với nhau Hợp đồng tín dụng số 2107LAV202101757, theo đó: Ngân hàng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ vay số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); loại tiền vay: VND; mục đích sử dụng vay tiền: Thanh toán chi phí mua thức ăn chăn nuôi và kinh doanh; thời hạn vay: 01 năm kể từ ngày 16-11-2021 đến ngày 16-11-2022; lãi suất: 9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, lãi chậm trả 0%/năm, ngày 04-8-2022 theo Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng, lãi suất cho vay điều chỉnh là 7,5%/năm kể từ ngày 01-4-2022. Để đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả vốn vay và các chi phí liên quan phát sinh theo hợp đồng nói trên, bên vay đã thế chấp bằng tài sản cho Ngân hàng theo: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số GB1511/2021/HĐTC ngày 16-11-2021, số công chứng 6654.NK/21.TCTS, quyển số: 08.TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Khuê giữa Ngân hàng (Bên nhận thế chấp) và vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ (Bên thế chấp). Tài sản thế chấp là toàn bộ giá trị quyền sử dụng 900m2 đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 477, 478, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Thôn T, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G414491, vào sổ số 00900 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo cấp ngày 01-4-1996 đứng tên ông Nguyễn Văn H. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định pháp luật. Thực hiện Hợp đồng tín dụng số 2107LAV202101757, Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ số tiền vay: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ đã không thanh toán nợ đúng hạn, vi phạm Hợp đồng tín dụng, phía Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông H, bà Đ trả nợ nhưng không được thực hiện. Vì vậy, để đảm bảo thu hồi vốn vay, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo:
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ phải thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 2107LAV202101757 ký ngày 16-11-2021 tạm tính đến ngày 29-9-2023 (ngày xét xử), cụ thể như sau: Nợ gốc: 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); nợ lãi trong hạn: 39.554.795đ (Ba mươi chín triệu năm trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng); nợ lãi quá hạn: 16.232.877đ (Mười sáu triệu hai trăm ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng); tổng cộng: 555.787.671đ (Năm trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng), và các khoản tiền lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 29-9-2023 đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng 900m2 đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 477, 478, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Thôn T, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G414491, vào sổ số 00900 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 01-4-1996 đứng tên ông Nguyễn Văn H. Trường hợp số tiền phát mại thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thì vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết khoản vay.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ thống nhất với việc trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, xác định có vay Ngân hàng số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận như phía Ngân hàng trình bày. Nhưng do điều kiện hiện nay khó khăn nên đề nghị phía Ngân hàng miễn khoản tiền lãi và trả dần khoản nợ gốc.
Tại Biên bản xem xét Thẩm định ngày 21-7-2023 xác định được: Về diện tích 900m2 đất, trong đó có 456m2 đất ao, 444m2 đất ở và đất vườn thuộc thửa đất số 477, 478, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Thôn T, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), giữ nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G4144914, cấp ngày 01-4-1996 đứng tên ông Nguyễn Văn H, không chuyển đổi, chuyển nhượng cho ai. Tài sản trên đất gồm 01 nhà mái bằng 01 tầng diện tích 60m2, 01 nhà mái bằng diện tích 50m2, 01 lán tôn, sân bê tông lát gạch đỏ, cổng inox, tường vây quanh ao bằng inox, 03 cây mít trong đó có 02 cây đường kính gốc 7cm, 01 cây đường kính gốc 20cm, 01 cây dừa, 01 cây nhãn đường kính gốc 12cm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có đơn khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa theo giấy triệu tập của Tòa án là không tuân thủ đúng các điều 70, 72,73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 116, 117, 357, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đề nghị giải quyết: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); nợ lãi trong hạn: 39.554.795 đ (Ba mươi chín triệu năm trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng); nợ lãi quá hạn: 16.232.877đ (Mười sáu triệu hai trăm ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng); tổng cộng: 555.787.671đ (Năm trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng) theo đúng quy định trong hợp đồng đã ký kết. Về án phí đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án trả lại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp, miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua các tài liệu của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai, vắng mặt có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- Về yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam:
Trên cơ sở lời khai của đương sự và chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng: Ngày 16 tháng 11 năm 2021, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ đã ký với nhau Hợp đồng tín dụng số 2107LAV202101757, nội dung: Ngân hàng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ vay số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); loại tiền vay: VND; mục đích sử dụng vay tiền: Thanh toán chi phí mua thức ăn chăn nuôi và kinh doanh; thời hạn vay: 01 năm kể từ ngày 16-11-2021 đến ngày 16-11-2022; lãi suất: 9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, lãi chậm trả 0%/năm, ngày 04-8-2022 theo Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng, lãi suất cho vay điều chỉnh là 7,5%/năm kể từ ngày 01-4-2022. Để đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả vốn vay và các chi phí liên quan phát sinh theo hợp đồng nói trên, bên vay đã thế chấp bằng tài sản cho Ngân hàng theo: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số GB1511/2021/HĐTC ngày 16-11-2021, số công chứng 6654.NK/21.TCTS, quyển số: 08.TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Khuê giữa Ngân hàng (Bên nhận thế chấp) và vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ (Bên thế chấp). Tài sản thế chấp là toàn bộ giá trị quyền sử dụng 900m2 đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 477, 478, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Thôn T, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G414491, vào sổ số 00900 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo cấp ngày 01-4-1996 đứng tên ông Nguyễn Văn H. Thực hiện hợp đồng tín dụng số 2107LAV202101757, Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ số tiền vay: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ đã không thanh toán nợ đúng hạn, vi phạm Hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với nghĩa vụ trả nợ của bên vay thể hiện nội dung “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Theo thỏa thuận của Ngân hàng và ông H, bà Đ thì ngày 16-11-2022 ông H, bà Đ phải tất toán trả nợ cho phía Ngân hàng. Nhưng ông H, bà Đ đã không thực hiện đúng cam kết trả nợ như thỏa thuận. Phía Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông H, bà Đ trả nợ, nhưng không được thực hiện. Việc để xảy ra tranh chấp hoàn toàn do lỗi của ông H, bà Đ. Vì vậy yêu cầu trả nợ của Ngân hàng đối với ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ với số tiền gốc 500.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về lãi suất căn cứ quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng có nội dung: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. 2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Nên yêu cầu về thanh toán khoản lãi suất chậm trả, lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ký ngày 06 tháng 11 năm 2021, giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ và lãi suất này tính đến ngày xét xử (ngày 29 tháng 9 năm 2023), lãi trong hạn: 39.554.795 đồng; lãi quá hạn: 16.232.877 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu đối với tài sản thế chấp của Ngân hàng: Tài sản thế chấp là toàn bộ giá trị quyền sử dụng 900m2 đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 477, 478, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Thôn T, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G414491, vào sổ số 00900 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo cấp ngày 01-4-1996 đứng tên ông Nguyễn Văn H. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định pháp luật. Nên đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 298, 317, 318, 319, 398 của Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 167, Điều 188 của Luật Đất đai. Theo Điều 299 của Bộ luật Dân sự các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm như sau: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Nên yêu cầu đề nghị phát mại tài sản thế chấp đối với diện tích đất và tài sản trên đất gồm toàn bộ giá trị quyền sử dụng 900m2 đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 477, 478, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Thôn T, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G414491, vào sổ số 00900 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo cấp ngày 01-4-1996 đứng tên ông Nguyễn Văn H và tài sản trên đất gồm 01 nhà mái bằng 01 tầng diện tích 60m2, 01 nhà mái bằng diện tích 50m2, 01 lán tôn, sân bê tông lát gạch đỏ, cổng inox, tường vây quang ao bằng inox, 03 cây mít trong đó có 02 cây đường kính gốc 7cm, 01 cây đường kính gốc 20cm, 01 cây dừa, 01 cây nhãn đường kính gốc 12cm được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí, lệ phí Tòa án: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, tuy nhiên do bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ đã trên 60 tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.
Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ quy định tại các điều 116, 117, 280 và các điều 351, 357, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ quy định tại Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam:
- Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền là 555.787.671đ (Năm trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); số tiền nợ lãi trong hạn: 39.554.795 đ (Ba mươi chín triệu năm trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng); số tiền nợ lãi quá hạn: 16.232.877đ (Mười sáu triệu hai trăm ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng).
Trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản là quyền sử dụng 900m2 đất thuộc thửa đất số 477, 478, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Thôn T, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 4, xã GB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), diện tích đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G414491, vào sổ số 00900 do cấp ngày 01-4-1996 đứng tên người sử dụng ông Nguyễn Văn H và toàn bộ tài sản trên đất gồm 01 nhà mái bằng 01 tầng diện tích 60m2, 01 nhà mái bằng diện tích 50m2, 01 lán tôn, sân bê tông lát gạch đỏ, cổng inox, tường vây quanh ao bằng inox, 03 cây mít trong đó có 02 cây đường kính gốc 7cm, 01 cây đường kính gốc 20cm, 01 cây dừa, 01 cây nhãn đường kính gốc 12cm.
Trường hợp số tiền phát mại thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thì vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết khoản vay.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày ban hành bản án sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.535.000đ (Mười hai triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn) theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0006607 ngày 22-5-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
3. Về quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án: Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sử đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận : - TAND TP Hải Phòng; - VKS ND TP Hải Phòng; - VKS ND huyện Vĩnh Bảo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Duy Việt |