vanban.org

Bản án 05/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 14/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lường Thị Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lường Thị Ngọc L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/6/2023). Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,85 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trắ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Thị Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH Đ
Bản án số: 05/2023/HSST
Ngày: 14 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Kháng Mai Thu - Nơi công tác: Phó Bí thư tỉnh đoàn tỉnh Đ.

2. Bà Phạm Thị Thanh Hương - Nơi công tác: Phó chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, thành phố B, tỉnh Đ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Năng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Thị Ngọc L; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 03/6/2005, tại tỉnh Đ;

Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12 phổ thông; Con ông: Lường Văn T; Con bà: Lò Thị T; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 28/6/2023, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Lù Văn H - Sinh ngày: 02/03/2008; Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ (Vắng mặt);

- Người đại diện theo pháp luật cho cháu H: Bà Lò Thị T; Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/6/2023, bị cáo Lường Thị Ngọc L điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 27AA-05232 đi từ nhà thuộc bản C, xã T đến bản Xôm, xã T, huyện Đ tìm mua ma túy về sử dụng. Tại bản Xôm, xã T L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 13 viên hồng phiến, được gói trong 01 mảnh nilon màu trắng với giá 500.000 đồng. Nhận ma túy của người đàn ông xong, bị cáo cầm ở lòng bàn tay trái và điều khiển xe gắn máy lên thành phố B chơi, khoảng 16 giờ 15 phút, bị cáo đi đến đoạn đường Võ Nguyên Giáp thuộc tổ dân phố 07, phường N, thành phố B thì bị tổ công tác Công an thành phố B yêu cầu dừng xe kiểm tra, bị cáo tự giác giao nộp gói ma túy có đặc điểm như trên, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt quả tang, niêm phong thu giữ vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 18 giờ 15 phút, ngày 28/6/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và kết luận giám định số 1092/KL-KTHS ngày 05/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Lường Thị Ngọc L gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,31 gam.

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKS-TPĐBP ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Lường Thị Ngọc L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lường Thị Ngọc L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo từ 20 tháng đến 23 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,85 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trắng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 16 giờ 50 phút ngày 28/6/2023, tại khu vực tổ 07, phường N, thành phố B, bị cáo Lường Thị Ngọc L đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 1,31 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 50 phút ngày 28/6/2023, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 18 giờ 15 phút, ngày 28/6/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và kết luận giám định số 1092/KL-KTHS ngày 05/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đ.

Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi cất giấu trái phép trên người 1,31 gam Methamphetamine của bị cáo mục đích để sử dụng là phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52/BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

. Từ những phân tích trên khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đ truy tố bị cáo Lường Thị Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nH vẫn cố ý thực hiện, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã cất giấu, thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là mua của một người đàn ông không quen biết, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 27AA- 05232, trong quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của cháu Lù Văn H, khi cho bị cáo mượn đi mua ma túy, cháu H không biết bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho cháu H cùng với người đại diện theo pháp luật của cháu là bà Lò Thị Thu (Mẹ đẻ của cháu H), xét việc trao trả chiếc xe này là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Vật chứng: Đối với 0,85 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu trắng, là vật không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS

- Tuyên bố bị cáo Lường Thị Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo Lường Thị Ngọc L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/6/2023).

2. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,85 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trắng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2023 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đ).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/11/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

Cỡ chữ