- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Bảo P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Bảo P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN P THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HSST Ngày : 04/01/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN P, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Đình Thức;
2/ Bà Trần Quang Cảnh;
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 04 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2022/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: PHẠM HOÀNG BẢO P; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường A, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Thanh P, sinh năm 1953 và bà Lại Thị Mỹ P, sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có; Nhân thân: Ngày 09/11/2010, bị Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2013, Ngày 23/12/2015, bị Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2018; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022;
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1997, địa chỉ đường D, Phường X, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 33 phút ngày 25/5/2022, Tổ tuần tra 363 Công an quận P kiểm tra hành chính Trần Đức L1 đang điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario màu đen biển số 59S3-118.64 chở Phạm Hoàng Bảo P ngồi sau tại trước đường B, phường B, quận P. Qua kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của P đang mặc có một (01) gói thuốc lá “Jet” bên trong có một (01) gói nylon chưa tinh thể không màu nghi là ma túy nên tiến hành thu giữ và đưa L1, P về trụ sở Công an phường T, quận P làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hoàng Bảo P khai nhận: P được đối tượng tên P2 (chưa rõ lai lịch), giới thiệu gặp đối tượng tên L2 (chưa rõ lai lịch) để mua ma túy. Số ma túy trên, P mua của đối tượng tên L2 vào ngày 25/5/2022 trên đường B với giá 10.000.000 đồng. Mục đích P mua ma túy về để sử dụng, bản thân sử dụng ma túy được khoảng 2 tháng, đây là lần đầu tiên P mua ma túy của L2. Ngoài ra P đã hai (02) lần mua ma túy của đối tượng tên P2, sau khi liên lạc với P2 thì P xóa lịch sử cuộc gọi và số điện thoại nên P không nhớ số điện thoại của P2. Sau khi mua ma túy P để ở trong túi quần phía trước bên trái và điều khiển xe máy đến nhà của anh Trần Đức L1 đường L, phường A, quận B để rủ anh L1 cùng đi bán con mèo của P, việc P tàng trữ trái phép chất ma túy không nói cho anh L1 biết. Sau đó, anh Trần Đức L1 điều khiển xe gắn máy chở P đi bán mèo thì bị bắt giữ cùng tang vật.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hoàng Bảo P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Theo bản Kết luận giám định số 3021/KL-KTHS ngày 01/6/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 46,3245g, loại Methamphetamin (BL60).
* Vật chứng:
- Thu giữ của Phạm Hoàng Bảo P:
+ Một (01) gói niêm phong số 3021 (595/22) bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Mạnh Cường (Giám định viên), Nguyễn Hải Tiền (Cán bộ điều tra);
+ Một (01) xe gắn máy hiệu Honda Vario màu đen biển số: 59S3-118.64, số khung: MH1JM511XJK174445; số máy: JM51E-1174366, là phương tiện P sử dụng khi bị bắt quả tang. P khai nhận, mượn xe gắn máy trên của một người tên N (chưa rõ lai lịch) ở Quận 3 vào sáng ngày 25/5/2022 để đi công việc.
Qua xác minh, xe gắn máy trên do anh Nguyễn Tấn P (thường trú: đường D, Phường X, quận T) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với anh P cho biết: Mua xe gắn máy trên vào ngày 21/02/2019, đến khoảng tháng 8/2021 anh P bán xe cho một người tên M nhỏ (không rõ lai lịch). Hiện Cơ quan CSĐT Công an quận P đã đăng báo tìm chủ sở hữu;
+ Một (01) gói thuốc lá “Jet” màu trắng, P sử dụng để cất giấu ma túy;
+ Một (01) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei 1: 353408116197680/01, số Imei 2: 353409116197688/01 (bể màn hình), P sử dụng để liên lạc mua ma túy;
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 90/PNK ngày 29/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P.
Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 03 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng Bảo P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Hoàng Bảo P theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 249, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Bị cáo Phạm Hoàng Bảo P nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 33 phút ngày 25/5/2022, Phạm Hoàng Bảo P đã có hành vi tàng trữ trái phép 46,3245 gram ma túy ở thể rắn loại Methamphetamin tại trước đường B, phường B, quận P thì bị bắt quả tang cùng tang vật, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, Cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
Đối với đối tượng tên L2, P2 bán ma túy cho P, do không biết rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, truy tìm khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Đối với anh Trần Đức L1 không biết việc P tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đủ cơ sở để xử lý đối với anh L1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra còn làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy đá (ma túy tổng hợp) là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo do đó cần phải có mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Ngoài ra Hội đồng xét xử cũng xét nhân thân bị cáo là rất xấu, đã 02 lần bị kết án về hành vi “Cướp giật tài sản”mặc dù đã được xóa án tích nhưng đây cũng là điểm cần lưu ý khi Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo có ông nội là ông Phạm Văn G được tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 3021 (595/22) bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Mạnh Cường (Giám định viên), Nguyễn Hải Tiền (Cán bộ điều tra); 01 gói thuốc lá “Jet” màu trắng, P sử dụng để cất giấu ma túy;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: một (01) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei 1: 353408116197680/01, số Imei 2: 353409116197688/01 (bể màn hình), P sử dụng để liên lạc mua ma túy
- Giao một (01) xe gắn máy hiệu Honda Vario màu đen biển số: 59S3-118.64, số khung: MH1JM511XJK174445; số máy: JM51E – 1174366 cho Chi cục Thi hành án dân sự quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định. Quá thời hạn mà không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước;
(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 90/PNK ngày 29/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh)
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn cho bị cáo;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Bảo P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
* Áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt:
Phạm Hoàng Bảo P 12 (mười hai) năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/5/2022;
* Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 3021 (595/22) bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Mạnh Cường (Giám định viên), Nguyễn Hải Tiền (Cán bộ điều tra); 01 gói thuốc lá “Jet” màu trắng, P sử dụng để cất giấu ma túy;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei 1: 353408116197680/01, số Imei 2: 353409116197688/01 (bể màn hình), P sử dụng để liên lạc mua ma túy
Giao một (01) xe gắn máy hiệu Honda Vario màu đen biển số: 59S3-118.64, số khung: MH1JM511XJK174445; số máy: JM51E – 1174366 cho Chi cục Thi hành án dân sự quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 (sáu) tháng. Quá thời hạn mà không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước;
(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 90/PNK ngày 29/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh)
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt/niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Công an quận P; - VKSND quận P; - Chi cục THADS quận P; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PC27 CATP.HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phƣơng |