- Tranh chấp gì? án hình sự — "giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38, 56 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phòng chống tác hại rượu bia
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ TỈNH HƯNG YÊN _____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023 /HSST Ngày 09/02/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ – TỈNH HƯNG YÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Quỳnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Tuấn và bà Ngô Thị Thanh Tân.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/02/ 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 đối với
1/ Bị cáo: Nguyễn Văn S1. Sinh ngày: 08/11/2000. Giới tính: Nam. Sinh, trú quán: thôn TL, xã TH, huyện YM, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Họ tên bố: Nguyễn Văn S2. Sinh năm: 1975. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên mẹ: Hoàng Thị H1. Sinh năm 1975. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Gia đình có hai anh em. Bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Bị hại:
2.1 Cháu Bùi Thị P1, sinh năm 2004 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cháu P: Anh Bùi Văn C1, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Trú tại: thôn NB, xã NA, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
2.2 Chị Hà Thị T1, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Trú tại: Bản C, xã MB, huyện PY, tỉnh Sơn La.
2.3 Cháu Vũ Văn Đ1, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Người giám hộ của cháu Đ1: Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Trú tại: thôn TH, xã LTK, huyện YM, tỉnh Hưng Yên.
2.4 Cháu Lò Thị P2, sinh năm 2006 (vắng mặt)
Người giám hộ của cháu P2: Chị Lò Thị S3, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Trú tại: Bản PB, xã NT, thành phố ĐN, tỉnh Điện Biên.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
3.1 Anh Nguyễn Văn S4, sinh năm 1975 (có mặt)
3.2 Anh Vũ Văn H2, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Đều trú tại: thôn TL, xã TH, huyện YM, tỉnh Hưng Yên.
3.3 Anh Phạm Văn P3, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Trú tại: tổ dân phố NX, phường NH, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
3.4 Anh Bùi Văn C1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
3.5 Chị Phạm Thị H3, sịnh năm 1983 (vắng mặt)
Đều trú tại: thôn NB, xã NA, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
3.6 Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1998 (có mặt)
Trú tại: thôn TL, xã TH, huyện YM, tỉnh Hưng Yên
3.7 Công ty TNHH vận tải và thương mại HT
Địa chỉ: tổ dân phố YX, phường PĐP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên. Người đại diện theo ủy quyền: anh Đỗ Ngọc H4, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Trú tại: thôn TT, thị trấn YM, huyện YM, tỉnh Hưng Yên.
3.8 Công ty cổ phần FC
Địa chỉ: Số 42/20 NHQ, phường TL, quận HB, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo ủy quyền: anh Đặng Văn L1, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Trú tại: Số 128 HV, phường TL, quận HB, thành phố Hải Phòng.
4/ Người làm chứng:
4.1 Anh Đặng Văn C3, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Trú tại: 122/20/121 đường M, phường TT, thành phố TĐ, tỉnh Bình Dương.
4.2 Chị Hà Thị T2, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Trú tại: thôn NV, xã DS, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S1 có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên cấp ngày 09/12/2018. Chiều ngày 22 tháng 4 năm 2022, S1 mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125I, biển số 89F1-393.20 của anh Vũ Văn H2 người cùng thôn để đi giải quyết việc cá nhân. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, S1 về nhà ăn cơm tối và uống 02 lon bia Hà Nội loại 330ml rồi đi ngủ. Đến khoảng 03 giờ ngày 23 tháng 4 năm 2022, S1 điều khiển xe mô tô đến nhà anh H2 rủ lên khu vực ngã tư PN ăn đêm, anh H2 đồng ý. S1 điều khiển xe mô tô chở anh H2 ngồi phía sau đi theo cung đường từ TH đến ngã 5 vòng xuyến YM rồi rẽ phải vào đường 380 lên PN. Khi đi đến đoạn đường 380 thuộc địa phận thôn LT, xã LX, huyện YM, S1 điều khiển xe mô tô sang làn đường bên trái chiều đi của mình để vượt bên trái xe ô tô tải biển số 89C- 018.43 do anh Đỗ Ngọc H4 điều khiển đi phía trước thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển số 89K6- 0260 do cháu Vũ Văn Đ1 điều khiển chở Bùi Thị P1, Hà Thị T1 và Lò Thị P2 đi theo chiều ngược lại. Phát hiện thấy xe mô tô do S1 điều khiển vượt trái xảy ra tai nạn, anh H4 điều khiển xe ô tô số 89C- 018.43 đánh lái về lề đường bên phải va chạm với xe ô tô biển số 15C- 347.30 của anh Đặng Văn L1 đang đỗ ở lề đường bên phải. Hậu quả S1, chị P1, chị T1, chị P2, anh H2, anh Đ1 đều bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Phố Nối. Do thương tích nặng, chị Bùi Thị P1 được chuyển đến Bệnh viện Việt Đức rồi chuyển đến Bệnh viện Bạch Mai, đến ngày 27/4/2022, do tiên lượng xấu gia đình đưa về nhà, đến ngày 04/5/2022 thì chết.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra tại nạn là đoạn đường trải nhựa phẳng, rộng 11 mét (m) được chia thành hai chiều đường bởi vạch sơn màu vàng đứt đoạn ở giữa, mỗi chiều đường rộng 5,5m. Thống nhất lấy chiều TL đi PN là chiều phải, lấy tâm chiều rộng mặt đường của nhà nghỉ Hotel PA làm mốc. Lề đường bên phải rộng 2m, tiếp giáp với nhà ở của dân; lề đường bên trái rộng 1,2m, tiếp giáp với nhà ở của dân. Từ tâm chiều rộng mặt đường của nhà nghỉ Hotel PA 3,5m là tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 89K6- 0260 (xe số 1), xe đổ nghiêng sang bên phải, đầu xe hướng ra phía giữa đường, đuôi xe hướng vào lề đường bên trái, tâm trục bánh sau cách mép đường phải 11,5m, tâm trục bánh trước vào mép đường phải là 10,6m. Cách xe số 1 về hướng PN 0,7m là tâm vết máu loang kích thước (1x0,7)m (vết số 2), tâm vết này cách mép đường phải 12m; Vết cày xước số 3 có chiều TL đi PN, có kích thước (5,5x0,2)m, cuối vết cày xước trùng với giá đề chân sau bên phải xe mô tô số 01, đầu vết cày xước cách mép đường phải 8,9m, cuối vết cày xước cách mép đường phải 11,5m; cách đầu vết cày xước số 3 về hướng PN 5,8m là đầu vết cày xước (số 4) có kích thước (26x1)m có chiều TL đi PN, đầu vết này cách mép đường phải 7,5m, cuối vết này trùng với giá để chân sau bên phải xe mô tô biển số 89F1- 393.20; xe mô tô biển số 89F1- 393.20 đổ nghiêng sang phải, đầu xe hướng vào lề đường bên phải, sau xe hướng ra giữa đường (xe số 5), tâm trục bánh trước cách lề đường bên phải 2,5m, tâm trục bánh sau cách lề đường phải 3,2m. Cách tâm trục bánh sau xe mô tô số 5 về hướng TL 0,8m là tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô biển số 89C-018.43 (xe số 6), xe trong trạng thái đỗ, tắt máy, đầu xe hướng PN, sau xe hướng TL, tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường phải 0,2m, tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường phải 0,1m. Cách tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô số 6 về hướng TL 1m là tâm vết máu (số 7) có khích thước (1,6x0,8)m, tâm vết này cách mép đường phải 2,1m. Cách tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô số 6 về hướng TL 2,9m là tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô biển số 15C- 347.30 (xe số 8), đầu xe hướng đi TL, sau xe hướng PN, xe ô tô nằm ngoài mép đường bên phải, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau bên phải đều cách mép đường phải là 0,1m. Trùng với điểm đầu vết cày xước số 4 là tâm khu vực mảnh nhựa vỡ kích thước (26x5)m, tâm vết này cách mép đước phải 8m.
Khám xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125I, biển số 89F1-393.20 xác định: Tại ốp nhựa phía trước cụm đèn pha, ốp nhựa phía trước khung xe, cánh yếm bên trái, bên phải, đèn xin nhan phía trước bên trái, bên phải bị bật rời khỏi xe; Tại chắn bùn phía trước có vết xước sơn, dập vỡ nhựa có chiều từ trước về sau, kích thước (42x15)cm. Mặt ngoài ốp nhựa bên phải cụm đèn pha có vết bào mòn dập vỡ nhựa có chiều từ trên xuống dưới, kích thước (8x6)cm. Tại đầu tay nắm bên phải có vết xước sơn và kim loại, có chiều từ tâm ra ngoài, kích thước (3x3)cm. Tại đầu tay phanh bên phải có vết bào mòn kim loại, có chiều từ trước về sau, kích thước (1x1)cm. Giá để chân trước bên phải để lại vết xước nhựa có chiều từ dưới lên trên, kích thước (12x5)cm. Giá để chân sau bên phải có vết xước kim loại, chiều từ dưới lên trên, kích thước (6x1)cm. Tại ốp ống giảm thanh có vết xước bào mòn nhựa và kim loại, chiều từ trước về sau, kích thước (17x8)cm. Giá để chân trước bên trái bị vỡ mất miếng nhựa, kích thước (60x30). Hệ thống đèn trước, còi, phanh bị hư hỏng.
Khám xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA, biển số 89K6- 0260 xác định: Tại cụm đèn pha, đèn xin nhan phía trước, ốp nhựa phía trước khung xe, cánh yếm bên trái, giá để chân trước bên trái, giá để chân sau bên trái bị vỡ, gãy rời khỏi xe. Tại đầu tay nắm bên phải có vết xước nhựa, chiều từ trái sang phải, từ ngoài và tâm, kích thước (3x3)cm; tại đầu tay phanh có vết bào mòn kim loại, chiều từ phải sang trái, kích thước (1x1)cm. Đầu giá để chân trước bên phải có vết bào mòn kim loại, có chiều từ trước về sau, kích thước (1x1)cm, lực tác động làm giá để chân bị cong lệch so với vị trí ban đầu 5cm chiều từ trước về sau, trong vết này còn có chất bột màu trắng. Tại đầu cần số bên trái bị cong có chiều từ trước về sau, lệch so với vị trí ban đầu 1800. Hệ thống điều khiển không hoạt động được.
Khám xe ô tô biển số 89C- 018.43 xác định: Tại gương chiếu hậu bên phải gãy rời khỏi xe; tại góc phía trước bên phải buồng lái có vết bong sơn, bẹp lõm kim loại có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, kích thước (30x50)cm. Tại mặt ngoài bên phải ba-đờ-sốc trước bên phải có vết bong sơn, dập vỡ nhựa, kích thước (30x37)cm. Cụm đèn bên phải vỡ hỏng hoàn toàn.
Khám xe ô tô biển số 15C- 347.30 xác định: Tại mặt ngoài cánh cửa và thành xe phía cuối bên phải có vết xước sơn, bẹp lõm kim loại chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, kích thước (146x103)cm, trong vết này còn để lại chất màu xanh. Mặt ngoài má lốp bánh sau bên phải có vết sạch bụi đất, bào mòn cao su có chiều từ ngoài mặt lăn vào tâm trục, kích thước (60x13)cm, điểm gần nhất cách chân van 20cm theo chiều chuyển động tiến của bánh xe, trong vết này còn dính chất màu xanh.
Kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn S1 là 0.243mg/L.
Bản kết luận giám định số 2717/GĐPY-PC09 ngày 11/8/2022 và bản kết luận giám định mô bệnh học số 2271/GMBH-PC09 ngày 26/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa xác định: Bùi Thị P1 bị đa chấn thương, chấn thương sọ não (tổn thương chất trắng lan tỏa, tổn thương sợi trục lan tỏa), đụng dập mô phổi, gãy 1/3 xương đòn trái, gãy 1/3 giữa xương đùi trái, gãy chỏm xương mác trái, gãy 1/3 hai xương cẳng chân trái; Thiếu máu; Hội chứng nhiễm trùng; Viêm phổi. Nguyên nhân chết: Suy hô hấp do tổn thương đụng dập phổi, viêm phổi đông đặc, hậu quả của đa chấn thương.
Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 5486/KL-KTHS ngày 20/9/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối với Hà Thị T1 kết luận: sẹo phẫu thuật mặt ngoài đùi trái đến mặt trước gối trái, kích thước lớn 03%; 03 sẹo mặt trong gối trái kích thước nhỏ, mỗi sẹo 01%; 01 sẹo mặt trong gối trái, kích thước trung bình 02%; sẹo mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái, kích thước trung bình 02%; vỡ liên lồi cầu xương đùi trái, còn phương tiện kết xương gây hạn chế vận động khớp gối, tầm vận động khớp gối trái từ 00 đến 900: 16%; vỡ mâm chày trái phục hồi tốt 11%; vỡ mắt cá trong chân trái, không ảnh hưởng khớp 06%; vỡ mắt cá ngoài chân trái, không ảnh hưởng khớp 01%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Hà Thị T1 tại thời điểm giám định là 37%.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ trưng cầu giám định thương tích xác định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của chị Lò Thị P2, anh Vũ Văn Đ1 và anh Vũ Văn H2. Tuy nhiên, chị P2, anh Đ1, anh H2 đều từ chối giám định thương tích.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Văn S1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị Bùi Thị P1 tổng số tiền 100.000.000 đồng; bồi thường cho chị Hà Thị T1 tổng số tiền 25.000.000 đồng. Đại diện hai gia đình bị hại nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đối với chiếc xe ô tô biển số 89C- 018.43, chủ sở hữu là của công ty TNHH vận tải và thương mại HT, không liên quan đến tội phạm; Ngày 18/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ đã trả lại cho anh Đỗ Ngọc H4 là đại diện theo ủy quyền của Công ty HT, anh H4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với chiếc xe ô tô biển số 15C- 347.30, chủ sở hữu là của công ty Cổ phần FC, không liên quan đến tội phạm; Ngày 18/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ đã trả lại cho anh Đặng Văn L1 là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần FC. Anh L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 89F1- 393.20 là của anh Vũ Văn H2. Kết quả điều tra không đủ căn cứ xác định anh H2 giao xe mô tô cho Sang điều khiển khi đã uống bia nên không xử lý đối với anh H2. Ngày 18/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ đã trả lại cho anh H2 chiếc xe mô tô trên, anh H2 không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 89K6- 0260 là của anh Phạm Văn P3, sinh năm 1991 ở tổ dân phố NX, phường NH, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên. Kết quả điều tra xác định anh Đ1 tự ý lấy xe mô tô của anh P3 để chở chị T1, P2 và P1 nên không có căn cứ xử lý đối với anh P3.
Tại bản cáo trạng số 09 /QĐ - VKS - YM ngày 17/01/2023 của Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Nguyễn Văn S1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn S1 trình bày: Khoảng 22 giờ ngày 22/04/2022 bị cáo có uống 02 lon bia Hà Nội loại 330ml ở nhà rồi đi ngủ, đến 03 giờ ngày 23 tháng 4 năm 2022 bụng đói lên đến nhà anh H2 rủ lên ngã tư PN ăn đêm, khi đi anh H2 không biết bị cáo đã uống bia, khi vượt xe ô tô đi cùng chiều, bị cáo có đánh lái sang chiều đường bên trái, do tốc độ cao lên đã đâm vào xe mô tô đi ngược chiều do anh Vũ Văn Đ1 điều khiển chở theo ba người, hậu quả làm chị Phước bị chết, bị cáo và những người khác đều bị thương. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường cho những người bị hại, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm hòa nhập cuộc sống xã hội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S2 có ý kiến: Ông là bố đẻ bị cáo S1, sau khi bị cáo gây tai nạn, có nhờ ông đi bồi thường cho các bị hại, ông không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền ông đã bồi thường cho các bị hại, ông xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ: Đề nghị HĐXX. tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ Luật hình sự; điểm b, s khoản 1; 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38, 56 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Sang từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cộng với 01 năm 03 tháng tù của bản án số 127/ 2022/ HSST ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 03 năm đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/08/2022, ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn có quan điểm về về trách nhiệm dân sự và vật chứng.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt vắng mặt bị hại, đại diện bị hại và một số những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Bị cáo và đại diện Viện Kiểm sát có ý kiến và quan điểm đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. HĐXX. xét thấy bị hại, đại diện bị hại và những người liên quan không còn yêu cầu bồi gì đối với bị cáo, những người vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, nên việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, do vậy HĐXX. căn cứ Điều 292; 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại, đại diện bị hại, những người liên quan, những người làm chứng.
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại các biên bản hỏi cung bị cáo đều khai nhận, khi vượt xe ô tô cùng chiều bị cáo lấn sang đường ngược chiều, do tốc độ cao đã đâm vào xe mô tô do anh Vũ Văn Đ1 đi ngược chiều, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các xe mô tô và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy HĐXX. có đủ căn cứ xác định vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 23/4/2022 tại đường 380 thuộc địa phận thôn LT, xã LX, huyện YM, tỉnh Hưng Yên, S1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125I, biển số 89F1-393.20 trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn 0,243 mg/l, chở phía sau anh Vũ Văn H2 đi theo hướng từ TL về PN đã vượt xe đi cùng chiều, tốc độ cao, không đảm bảo an toàn dẫn đến đâm vào xe mô tô biển số 89K6- 0260 đi ngược chiều do anh Vũ Văn Đ1 điều khiển chở chị Lò Thị P2, Hà Thị T1, Bùi Thị P1, hành vi vượt xe không đảm bảo an toàn của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chị Bùi Thị P1 chết, chị Hà Thị T1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 37%, nên hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật hình sự. Theo khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định cấm điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở, nhưng theo khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu bia có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 quy định: Sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”, như vậy cấm điều khiển mô tô, xe gắn máy mà hơi thở có nồng độ cồn. Theo khoản 3 Điều 156 Luật ban hành văn bản pháp luật quy định “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau” Bộ luật hình sự có hiệu lực từ ngày 01/07/2017, Luật phòng chống tác hại rượu bia có hiệu lực ngày 01/01/2020, cả hai đều do Quốc Hội ban hành, do vậy mặc dù khi điều khiển xe mô tô nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo S1 là 0,234mg/l thì bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự, do vậy Cáo trạng số 09 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ cho đại diện bị hại và bị hại, những người này đều có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, anh Vũ Văn Đ1 điều khiển xe mô tô không có bằng lái, không đội mũ bảo hiểm, chở theo ba người là vi phạm các quy định của luật giao thông đường bộ, do vậy xác định nguyên nhân tai nạn do lỗi một phần từ anh Đ1, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tính nguy hiểm của hành vi:
Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông, bị cáo là người đã được đào tạo về luật giao thông đường bộ, trước khi tham gia giao thông đã uống bia, khi vượt xe phía trước không đảm bảo an toàn, hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang cho mỗi người khi tham gia giao thông, để lại hậu quả nặng lề cho gia đình người bị hại.
Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đang chấp hành 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số 127/2022/ HS – ST, ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, đối với vụ án này HĐXX. xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cơ quan chức năng giáo dục, cải tạo thì mới đủ điều kiện để bị cáo biết tôn trọng pháp luật, không gây nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình chị P1 và chị T1 đã nhận đầy đủ tiền bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác, do vậy HĐXX không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 89K6- 0260 là của anh Phạm Văn P3, nay hoàn trả anh P3.
Về án phí: HĐXX. xác định bị cáo có tội, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38, 56 Bộ luật hình sự.
2/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
3/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 02 (hai) năm tù, công với 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số 127/2022/ HS - ST, ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bị cáo S1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/08/2022.
4/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
5/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn S1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Hoàn trả anh Phạm Văn P3 chiếc xe mô tô biển số 89K6-0260. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Mỹ.
7/ Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đại diện bị hại, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo Bộ luật tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người đại diện hợp pháp của người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - VKSND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; - Công an huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; - Chi cục THADS huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; - UBND xã Trung Hòa, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Ngô Xuân Quỳnh |