- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn H và ĐP đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1 TỈNH T2 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HSST Ngày 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hiểu.
Bà Vũ Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2022/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Vũ Văn H1, sinh ngày 09/11/1988; nơi sinh: huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn VH, xã ĐP, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc B (đã chết) và bà Tô Thị Ph; có vợ là Đặng Thị Tr và 2 con, con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Bản án số 16/2019/HSST ngày 10/4/2019, Tòa án nhân dân huyện T1 xử phạt 22 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2020; tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 168/QĐ-XPHC ngày 30/10/2012 của Công an thành phố T2 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ; Quyết định số 249/QĐ-XPHC ngày 07/9/2016 của Công an huyện T1 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, Vũ Văn H1 đã chấp hành xong; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Tô Văn Q1, tên gọi khác: Tuân; sinh ngày 20/9/1996; nơi sinh: Huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn VN, xã TN, Huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn Th1 và bà Nguyễn Thị Th2; có vợ là Nguyễn Thị LA và 2 con, con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: 2015 tham gia nghĩã vụ quan sự, 2017 xuất ngũ về địa phương. Bản án số 198/2017/HSST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố H1 xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng. Tô Văn Q1 đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Vũ Văn Th1, sinh ngày 24/3/1994; nơi sinh: Huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Tổ dân phố BS, thị trấn T1, Huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Ch1 và bà Nguyễn Thị Đ1; có vợ là Hoàng KA và 01 con, sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong các ngày 25/9/2022 và 26/9/2022, Vũ Văn H1 dựa vào kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng hằng ngày, đã thực hiện việc đánh bạc bằng hình thức sử dụng tin nhắn qua các ứng dụng Facebook, Zalo để nhờ Tô Văn Q1 mua hộ “số lô, số đề”. Sau khi nhận tin nhắn nhờ mua “số lô, đề” của H1 thì Q1 đã chuyển đến cho Vũ Văn Th1 để Th1 mua hộ. H1, Q1, Th1 quy ước cách thức đánh bạc dưới hình thức mua, bán “số lô, số đề” như sau: Đối với “số đề”: Loại 2 số (2 càng) người chơi chọn mua một hoặc nhiều con số bất kỳ từ số 00 đến 99, giá trị đặt cược tùy người chơi; sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày thì so sánh “số đề” đã mua với 2 số cuối của “Giải đặc biệt” nếu trùng nhau thì người chơi trúng “số đề” và sẽ được trả gấp 70 lần số tiền đã mua “số đề” đó, nếu không trùng thì sẽ bị mất số tiền đã mua. Đối với “số lô” người chơi sẽ chọn một số ngẫu nhiên từ 00 đến 99 rồi đặt cược số điểm (tiền) tùy theo người chơi, 1 “điểm lô” sẽ được tính là 22.000 đồng; sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì so sánh “số lô” đã mua với 2 số cuối của tất cả các giải (28 số của 8 giải). Nếu trong kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc có kết quả trùng với “số lô” đã mua thì người chơi trúng thưởng với tỉ lệ 1 “điểm lô” trúng thưởng được số tiền là 80.000 đồng, nếu không trùng thì người chơi sẽ bị mất số tiền đã mua cụ thể:
- Khoảng 17 giờ ngày 25/9/2022, Vũ Văn H1 sử dụng tài khoản Facebook có tên “H1 Vũ” nhắn tin qua ứng dụng Messenger đến tài khoản Facebook có tên “Tuân Tô” của Tô Văn Q1 có nội dung “81x200v” để nhờ Q1 mua hộ “số lô” 81 bằng 200 “điểm”; Q1 đồng ý nên nhắn tin“Ok” lại cho H1. Sau khi nhận “số lô” của H1 thì Q1 sao chép tin nhắn “81x200v” rồi sử dụng tài khoản Zalo “Tommy” của mình nhắn tin đến tài khoản Zalo “Dautay” của Vũ Văn Th1 thì được Th1 đồng ý, tổng cộng số tiền mua “số lô” 81 hết 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Sau khi đối chiếu kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày thì “số lô” 81 trúng tại giải sáu, thắng được số tiền là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Sau khi trừ đi số tiền đã dùng để mua “số lô” thì Th1 sẽ phải chuyển trả lại cho Q1 để Q1 trả cho H1 số tiền trúng thưởng còn lại là 11.600.000 đồng (Mười một triệu sáu trăm nghìn đồng), nhưng Th1 chưa chuyển số tiền thanh toán trên cho Q1 và H1. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ngày 25/9/2022 xác định là 20.400.000 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 26/9/2022, H1 sử dụng tài khản Zalo “H1 Vũ” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Tommy” của Q1 có nội dung “84x200v” nhờ Q1 mua hộ “số lô” 84 bằng 200 điểm. Q1 đồng ý nên nhắn tin “Ok a” lại cho H1. Sau khi nhận tin nhắn mua “số lô” của H1 thì Q1 sao chép và sử dụng Zalo “Tommy” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Dautay” của Th1 để mua “số lô” 84 bằng 200 điểm, tổng cộng số tiền mua hết 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Sau khi đối chiếu kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày thì “số lô” 84 trúng tại giải sáu, thắng được số tiền là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Đối trừ đi số tiền đã dùng để mua “số lô” thì Th1 phải chuyển trả lại cho Q1 để Q1 trả thưởng cho H1 số tiền là 11.600.000 đồng (Mười một triệu sáu trăm nghìn đồng), nhưng Th1 cũng chưa chuyển trả số tiền trên cho Q1 và H1. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ngày 26/9/2022 xác định là 20.400.000 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Khoảng 13 giờ ngày 27/9/2022, Vũ Văn H1 nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Tô Văn Q1 để yêu cầu lấy số tiền trúng thưởng 2 ngày (25/9/2022 và 26/9/2022) tổng số là 23.200.000 đồng. Do tài khoản có tiền nên của Q1 đã sử dụng tài khoản số 47110001401618 Ngân hàng BIDV để chuyển đến tài khoản số x Ngân hàng Lienvietpostbank của Vũ Văn H1 20.000.000 đồng; số tiền 3.200.000 đồng còn lại, Q1 chưa thanh toán cho H1. Sau đó, Q1 gọi điện bảo Th1 chuyển tiền để trả cho H1, Th1 đồng ý và sử dụng tài khoản số y Ngân hàng SHB chuyển đến tài khoản số z Ngân hàng BIDV của Q1 số tiền 6.000.000 đồng, số tiền 17.200.000 đồng còn lại Th1 vẫn chưa thanh toán cho Q1.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 đều thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSTH ngày 26/12/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 phạm tội “Đánh bạc”.
1. Đối với bị cáo Vũ Văn H1: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 21 tháng đến 24 tháng tù giam.
2. Đối với bị cáo Tô Văn Q1: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
3. Đối với bị cáo Vũ Văn Th1: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
Viện Kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo lao động tự do, không có tài sản và thu nhập ổn định. Đề nghị truy thu tiền đánh bạc. Ngoài ra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1 đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Các bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì, bị cáo H1 có ý kiến về đề nghị của Viện Kiểm sát về hình phạt là nặng. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều khai nhận: Ngày 25/9/2022 và 26/9/2022, Vũ Văn Th1 đã đánh bạc dưới hình thức bán (ghi) “số lô, số đề” cho Tô Văn Q1 và Vũ Văn H1 thông qua ứng dụng tin nhắn Zalo và Messenger, tổng số tiền là 40.800.000 đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp và được chứng minh bằng: Đơn tố giác của quần chúng nhân dân thôn VH, xã ĐP, Huyện T1, tỉnh T2; Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện T1 lập ngày 09/10/2022 tại Công an Huyện T1; Các biên bản kiểm tra điện thoại, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện T1 lập ngày 09/10/2022 tại Công an huyện T1; Các biên bản ghi nhận kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng các ngày 25/9/2022 và 26/9/2022 lập tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Thủ Đô-53E, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội; Kết luận giám định số 7686/KL-KTHS ngày 05/12/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; Văn bản trả lời của Công ty cổ phần VNG ngày 07/11/2022; Biên bản ghi lời khai của chị Hoàng KA sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố BS, thị trấn T1, Huyện T1, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, vào các ngày 25/9/2022 và 26/9/2022, Vũ Văn Th1 đã đánh bạc dưới hình thức bán (ghi) “số lô, số đề” cho Tô Văn Q1 và Vũ Văn H1 thông qua ứng dụng tin nhắn Zalo và Messenger, tổng số tiền là 40.800.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở xác định các bị cáo đều đánh bạc với số tiền 40.800.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân Huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 321 Bộ luật hình sự. Tội đánh bạc:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. [3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, là ẩn hoạ của nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật song vẫn thực hiện, đồng phạm trong việc thực hiện tội đánh bạc. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự chuẩn bị, lên kế hoạch phạm tội từ trước; bị cáo H1 nhắn tin cho bị cáo Q1 nhờ mua hộ số lô, Q1 đồng ý rồi chuyển tin nhắn qua zalo cho Vũ Văn Th1 để mua hộ. Trong 02 ngày 25/9/2022 và 26/9/2022, H1 đều nhờ Q1 đánh lô với Th1 số tiền 4.400.000 đồng, trúng được 16.000.000 đồng, tổng số tiền các bị cáo đánh bạc đều là 40.800.000 đồng. Vì vậy, bị cáo H1 đồng phạm với bị cáo Q1, bị cáo Q1 đồng phạm với bị cáo Th1 và có vị trí như nhau trong vụ án. Bị cáo H1 được nhận tổng số tiền là 23.200.000 đồng sau khi trừ số tiền bỏ ra đánh bạc, bị cáo Q1 đã trả cho H1 số tiền 20.000.000 đồng, Q1 còn thiếu H1 số tiền 3.200.000 đồng. Bị cáo Q1 được nhận số tiền của Th1 là 23.200.000 đồng, Th1 mới trả Q1 số tiền 6.000.000 đồng, số tiền 17.200.000 đồng còn lại Th1 vẫn chưa thanh toán cho Q1.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Vũ Văn Th1, Vũ Văn H1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Tô Văn Q1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đều bị áp dụng 1 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (phạm tội 2 lần trở lên); ngoài ra bị cáo Vũ Văn H1 còn bị áp dụng thêm 1 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (tái phạm).
Về tiền án: Bị cáo H1 có 01 tiền án về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc.
Về nhân thân: Bị cáo H1 có 02 lần bị xử lý hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ và Đánh bạc; bị cáo Q1 bị Tòa án nhân dân quận N1, thành phố H1 xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã được xóa án tích.
Về trách nhiệm hình sự:
Xét mức độ, vai trò; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo Hội đồng xét xử đánh giá trách nhiệm hình sự như sau: Các bị cáo H1, Q1, Th1 đều đánh bạc 02 lần như nhau với tổng số tiền là 40.800.000 đồng nên có trị trí vai trò như nhau trong cùng vụ án, tuy nhiên, bị cáo H1 có tiền án, nhân thân về tội đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn hị cáo Q1 và bị cáo Th1.
Bị cáo H1 có tiền án, nhân thân về tội đánh bạc, tái phạm, phạm tội 02 lần nên cần thiết áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo. Các bị cáo Q1, Th1 phạm tội 02 lần, tuy nhiên đều không có tiền án, tiền sự; bị cáo Q1 có nhân thân đã lâu, bản thân bị cáo Q1, Th1 sau khi phạm tội chấp hành tốt chủ trương chính sách, pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục các bị cáo và là phù hợp với quy định của pháp luật.
Các bị cáo đều lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện T1 đã quản lý: 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu IphoneXsmax màu đen, số máy MT502KH/A, số seri G6TXH8GXKPH1 của Vũ Văn H1; 1 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu IphoneX màu trắng, số seri F2LVMGDGJCLL; 1 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone6 màu vàng, số seri FFMV6B9JHXR6 của Tô Văn Q1. Xác định các điện thoại trên là công cụ, phương tiện sử dụng trong việc liên lạc ghi lô đề nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Cần truy thu của bị cáo Nguyễn Văn H1 8.800.000 đồng tiền dùng vào việc ghi lô đề và 20.000.000 đồng nhận của Tô Văn Q1.
Cần truy thu của bị cáo Vũ Văn Th1 số tiền 26.000.000 đồng là số tiền Th1 còn phải trả cho người trúng lô đề.
Về án phí: Các bị cáo H1, Q1, Th1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Xử phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; ; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn H1 21 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tô Văn Q1 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn Th1 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Giao bị cáo Tô Văn Q1 cho Ủy ban nhân dân xã TN, Huyện T1, tỉnh T2 giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Vũ Văn Th1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T1, Huyện T1, tỉnh T2 giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu IphoneXsmax màu đen, số máy MT502KH/A, số seri G6TXH8GXKPH1 của Vũ Văn H1; 1 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu IphoneX màu trắng, số seri F2LVMGDGJCLL; 1 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone6 màu vàng, số seri FFMV6B9JHXR6 của Tô Văn Q1. (Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện T1, tỉnh T2).
Truy thu sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Vũ Văn H1 tổng số tiền 28.800.000 đồng; truy thu sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Vũ Văn Th1 số tiền 26.000.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, các bị cáo Vũ Văn H1, Tô Văn Q1, Vũ Văn Th1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 17/01/2023./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh T2; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh T2; - Sở Tư pháp tỉnh T2; - VKSND Huyện T1; - Công an Huyện T1; - Chi cục THADS Huyện T1; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Ngọc Huyền |