- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lương Văn Đ phạm tội :" Tàng trữ trái phép cất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05 /2023/HSST Ngày 23/ 02 /2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vy Hoàng Hà
Ông Lê Minh Tường.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Vận – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn– Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07 /2023/QĐST–HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng Văn Đ; tên gọi khác: Không Sinh năm 1992 tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lương Văn T; Con bà: Hoàng Thị N; Vợ: Hà Thị Hoài N (đã ly hôn); Con: 01 người, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2022 đến nay, tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Nghệ An.
(Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 15 phút, ngày 06 tháng 10 năm 2022, tại khu vực nhà máy nước thuộc khối M, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác đội HS – KT – MT Công an huyện Quỳ Hợp, phối hợp với Công an thị trấn Quỳ Hợp phát hiện bắt quả tang Lương Văn Đ, đang có hành vi tàng trữ 02 (hai) gói ma túy (Methamphetamine) thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong cân, xác định khối lượng và lấy mẫu đi giám định: Sau khi loại bỏ bao gói, bên trong có 02 gói polyetylen màu kính loại túi có khuy bấm chứa các viên nén màu hồng (nghi hồng phiến). Gói thứ nhất có 185 viên nén màu hồng, khối lượng 18,40 (mười tám phẩy bốn mươi) gam; Gói thứ hai có 193 viên nén màu hồng, khối lượng 19,05 gam. Tổng khối lượng của hai gói là 37,45 (ba bảy phẩy bốn lăm) gam. Tiến hành lấy gói thứ nhất 05 viên nén màu hồng(ký hiệu M1) có khối lượng 0,49 (không phẩy bốn chín) gam; lấy gói thứ hai 06 (sáu) viên nén màu hồng (ký hiệu M2) có khối lượng 0,60 (không phẩy sáu mươi) gam. Số còn lại 367 viên nén màu hồng, có khối lượng 36,36 (ba sáu phẩy ba sáu) gam được niêm phong theo đúng quy định trong một phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành.
Kết luận giám định số 1213/KL – KTHS (Đ2- MT) ngày 10/11/2022: 02 (hai) mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lương Văn Đạo gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn Đ có tổng khối lượng 37,45 (ba mươi bảy phẩy bốn mươi) gam.
Bản cáo trạng số /CT-VKSHS ngày 09/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Lương Văn Đạo khai nhận: Lương Văn Đ là người nghiện chất ma túy, vào khoảng 19 giờ, ngày 05/10/2022, Đ một mình điều khiển xe máy YAMAHA Sirius màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 37H1 – 054.53 đi qua xã C, huyện Q lên huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ đi đến một đoạn đường nhựa thuộc một xã (Đ không biết là xã gì của huyện Q), thì gặp một người đàn ông không quen biết đang ngồi trên xe máy được dựng dọc đường, Đ dừng xe và nói chuyện, qua trao đổi, biết người đàn ông này có bán ma túy, Đ hỏi mua 02 (hai) gói ma túy (hồng phiến) với giá 4.000.000 đồng, được người đàn ông này đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy, Đạ trở về nhà, cất giấu ma túy ở bên đường gần nhà của mình. Đến lúc 12 giờ ngày 06/10/2022, Đ lấy hai gói ma túy đã cất giấu bỏ vào người để đi chơi với bạn ở xã C, với mục đích khi nào lên cơn nghiện sẽ đưa ra sử dụng. Khi đến đoạn đường nhà máy nước thuộc thị trấn Q, huyện Q, do lên cơn nghiệm, nên Đ dừng xe bên đường và đi xuống bụi tre đưa hai gói ma túy ra để chuẩn bị sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Bị cáo Lương Văn Đ nhất trí với cáo trạng của VKSND huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ từ 10 năm tù đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - 01 phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành bên trong có vỏ bao niêm phong, mảnh giấy gói, bao gói và 367 (ba trăm sáu mươi bảy) viên ma túy có khối lượng là 36,36 (ba mươi sáu phẩy ba mươi sáu) gam, sau khi đã lấy 11 (mười một) viên ma túy có khối lượng 1,09 (một phẩy không chín) gam đi giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 1 (một) que test ma túy của Lương Văn Đ đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu xanh tím, vỏ ốp màu đen, số Imel : 863851049304290, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo đề nghị trả lại cho chủ sở hữu;
- 01 (một) chiếc xe máy, nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đen đỏ, mang biển kiểm soát 37H1 – 054.53, xe máy đã qua sử dụng, đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là bà Hoàng Thị N trả lại cho chủ sở hữu đề nghị không phải xem xét thêm;
Theo lời khai của bị cáo Lương Văn Đ thì về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Đ mua với một người đàn ông không quen biết về để sử dụng. Do không xác định danh tính, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lương Văn Đ nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn Đ hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng. Lương Văn Đ khai nhận, là người nghiện chất ma túy khoảng 19 giờ, ngày 05/10/2022, Đ một mình điều khiển xe máy đi lên huyện Q, tỉnh Nghệ An mua được 02 (hai) gói ma túy (hồng phiến) của một người đàn ông không quen biết với giá 4.000.000 đồng đưa về cất giấu. Đến 12 giờ ngày 06/10/2022, Đ lấy hai gói ma túy đã cất giấu bỏ vào người để đi chơi. Khi đến đoạn đường nhà máy nước thuộc thị trấn Q, huyện Q, do lên cơn nghiệm, nên Đ dừng xe bên đường và đi xuống bụi tre đưa hai gói ma túy ra để sử dụng thì bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo Lương Văn Đ tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/10/2022; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ ngày 06/10/2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 06/10/2022; Tại bản kết luận giám định số 1213/KL – KTHS (Đ2- MT) ngày 11/10/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 02 (hai) mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lương Văn Đ gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn Đ có tổng khối lượng 37,45 (ba mươi bảy phẩy bốn mươi) gam để nhằm mục đích sử dụng. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Lương Văn Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lương Văn Đ cất dấu khối lượng 37,45 (ba mươi bảy phẩy bốn mươi) gam ma túy (Methamphetamine) để nhằm mục đích sử dụng. Do đó, bị cáo Lương Văn Đ bị xét xử và phải chịu khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo Lương Văn Đ đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý. Vụ án xảy ra còn gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần vì: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Lương Văn Đ.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...” . Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: 01 phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành bên trong có vỏ bao niêm phong, mảnh giấy gói, bao gói và 367 (ba trăm sáu mươi bảy) viên ma túy có khối lượng là 36,36 (ba mươi sáu phẩy ba mươi sáu) gam (Methamphetamine) là vật nhà nước cấm lưu hành; 1(một) que test ma túy của Lương Văn Đ cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu xanh tím, vỏ ốp màu đen, số Imel : 863851049304290, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo cần trả lại cho chủ sở hữu;
Về án phí: Bị cáo Lương Văn Đ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Đ 10 (mƣời) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/10/2022.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành bên trong có vỏ bao niêm phong, mảnh giấy gói, bao gói và 367 viên ma túy có khối lượng là 36,36 (ba mươi sáu phẩy ba mươi sáu) gam (Methamphetamine).
+ Một phong bì thư bên trong có 01 (một) que test ma túy của Lương Văn Đ;
Trả lại cho bị cáo Lương Văn Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu xanh tím, vỏ ốp màu đen, số Imel : 863851049304290, điện thoại đã qua sử dụng.
Đặc điểm chi tiết vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09/02/2023, giữa Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Lương Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 23/02/2023.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An, - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An, - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; -VKSND huyện Quỳ hợp, - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ hợp, - THADS huyện Quỳ hợp, - Bị cáo; -Bị hại ; - lưu | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Quán Vi Tuấn |