- Tranh chấp gì? án hình sự — "Siu M "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Siu M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HSST Ngày: 23/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- - - - - - -
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI
THành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Thới
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Khiêm và ông Nay Chơk
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Hoàng – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/HSST ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXX-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023; đối với bị cáo:
Siu M, sinh năm 1982, tại Gia Lai; trú tại: Thôn Plei K, xã Ia Y, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): không đi học; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; chức vụ, quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor H, sinh năm 1947 và bà Siu H’Đ, sinh năm 1950 (chết); có vợ là Ksor H’V, sinh năm 1976 và 01 người con; Tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2022 đến nay;
Nhân thân: Ngày 17/10/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Điều 155 Bộ luật hình sự 1985. Đã được xóa án tích. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Siu M: Ông Bùi Quang Thắng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý NH nước tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Bị hại: R’Ô X, sinh năm 1989
Trú tại: Thôn Plei K, xã Ia Y, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
R’Ô S, sinh năm 1995
Trú tại: Thôn Plei K, xã Ia Y, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Có mặt
Nguyễn Hải H, sinh năm 1981
Trú tại: Thôn Đ, xã Ia M, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Rcom Pu.
Trú tại: Tổ dân phố 15, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 14/4/2022, R’Ô X, sinh năm 1989 (trú tại Thôn Plei K, Ia Y, Phú Thiện, Gia Lai) điều khiển xe mô tô hiệu Wave@ biển số 81D1-181.13 (xe của R’Ô S, em trai X) đi nH bà Nay H’O, sinh năm 1963 (trú cùng Thôn) để uống rượu. Tại nH bà H’Oanh lúc này còn có Siu M, sinh năm 1982 (trú tại cùng Thôn) và một số người khác. Trước khi uống rượu, M có mượn bà H’Oanh một can nhựa đồng thời xin nước gia đình bà H’Oanh để sau khi uống rượu xong sẽ mang nước về sử dụng. Khoảng 11h00’ cùng ngày, trong lúc uống rượu thì M lên tiếng hỏi mượn xe mô tô biển số 81D1-181.13 của X để chở bình nước về nH một lúc sẽ quay lại trả xe và được X đồng ý. Sau khi mượn xe để chở nước về đến nH thì M nảy sinh ý định bán chiếc xe của X lấy tiền tiêu xài. M lập tức điều khiển xe mô tô biển số 81D1-181.13 đi đến tiệm sửa xe của Nguyễn Hải H, sinh năm 1981 ở Thôn Đoàn Kết, xã Ia Mrơn, Ia Pa, Gia Lai với mục đích bán xe lấy tiền tiêu xài. Trong quá trình thỏa thuận việc mua bán, M và H thỏa thuận H sẽ đổi cho M một chiếc xe mô tô cũ hiệu Dream (không xác định biển số) đồng thời H đưa thêm cho M số tiền chênh lệch là 1.000.000đ. Có xe và tiền, M điều khiển xe đến địa phận huyện Ea Hleo, tỉnh Đăk Lăk thì làm mất chiếc xe mô tô. M liền bắt xe khách đến địa bàn huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai làm nghề khoan giếng thuê cho anh Bùi Xuân Bảy, sinh năm 1994 (trú tại xã Ia Phìn, huyện Chư Prông). Ngày 14/9/2022, M mượn xe mô tô biển số 93F7-4423 của anh Bảy để về nH dự đám ma người thân.
Trước đó, lực lượng Công an xã Ia Y đang tiến hành xác minh đối với Siu M vì liên quan đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật trên địa bàn và tiến Hành triệu tập M đến làm việc nhưng không được. Sáng ngày 14/9/2022, Công an xã Ia Y phát hiện M đang có mặt tại địa bàn nên đã mời về làm việc. Tại đây, M khai nhận Hành vi đem xe mô tô biển số 81D1-181.13 đi bán lấy tiền tiêu sài. Sau đó, Công an xã Ia Y chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện để giải quyết theo thẩm quyền.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện tiến Hành điều tra xác minh và Yêu cầu định giá tài sản đối với xe mô tô biển số 81D1-181.13
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10 ngày 19/9/2022 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Phú Thiện kết luận, giá trị xe mô tô hiệu Wave@ biển số 81D1-181.13 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã tiến Hành cho R’Ô X là bị hại và Nguyễn Thanh H là người nhận mua xe nhận dạng qua ảnh để xác định Siu M. Kết quả, R’Ô X và Nguyễn Thanh H đều xác định người trong ảnh đúng là Siu M.
Căn cứ kết quả điều tra, xác minh, ngày 21/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện, Gia Lai đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Siu M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 93F7-4423, Siu M khai mượn của anh Bùi Xuân Bảy. Cơ quan điều tra CSĐT Công an huyện Phú Thiện đã có văn bản trao đổi thông tin đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Qua xác minh, Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Prông có văn bản trao đổi xác định Siu M không có Hành vi chiếm đoạt xe xe mô tô biển số 93F7-4423.
Đối với Nguyễn Hải H, là người nhận mua chiếc xe mô tô biển số 81D1-181.13 do Siu M thực hiện Hành vi phạm tội có được. Tuy nhiên, khi mua H không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
* Về vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Wave@ biển số 81D1-181.13 do Nguyễn Hải H giao nộp và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 014561 (đăng ký cho xe mô tô biển số 81D1-181.13) mang tên R’Ô S do R’Ô S giao nộp.
Đối với chiếc xe mô tô cũ hiệu Dream, do Siu M đổi lấy của Nguyễn Hải H nhưng đã làm mất. Cơ quan điều tra đã tổ chức xác minh nhưng chưa thu giữ được.
Xét thấy, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe mô tô biển số 81D1-181.13 và giấy đăng ký xe cho anh R’Ô S là chủ sở hữu hợp pháp.
* Về dân sự:
Anh R’Ô S đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì khác. Anh Nguyễn Hải H không yêu cầu Siu M trả lại số tiền 1.000.000đ và chiếc xe mô tô hiệu Dream cũ đã giao cho Siu M.
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Siu M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38 Bộ luật hình sự; xem xét các tình tiết giảm nhẹ bị cáo tHành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Siu M từ 01 năm 3 tháng đến 01 năm 8 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu số tiền 01 triệu đồng mà bị cáo bán chiếc xe mô tô chiếm đoạt được cho anh Nguyễn Hải H.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản Cáo trạng, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Các Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Phú Thiện, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hành vi, quyết định của cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng. Do đó, các Hành vi, các quyết định của cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng được thực hiện là hợp pháp.
Về Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ Hành vi phạm tội: Sáng ngày 14/4/2022, trong lúc cùng ngồi uống rượu với nhau tại nH bà Nay H’O tại thôn Plei K, xã Ia Y, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Bị cáo Siu M đã mượn chiếc xe mô tô BKS 81D1-181.13 của R’Ô X để chở can nước về nhà mình và được R’Ô X đồng ý. Sau khi mượn được xe chở được can nước về nhà thì M nảy sinh ý định bán chiếc xe lấy tiền tiêu xài. Bị cáo đã điều khiển xe mô tô trên đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Hải H và đổi lấy một xe mô tô hiệu Dream đã cũ khác, đồng thời anh H trả thêm cho bị cáo số tiền 1.000.000đồng. Giá trị chiếc xe mà bị cáo chiếm đoạt là 5.200.000đồng (Năm triệu hai trăm ngàn đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất của vụ án, mức độ hành vi của bị cáo:
Hành vi của bị cáo Siu M là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2000 đã từng bị kết án 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Hải H nhận mua chiếc xe mô tô BKS 81D1-181.13 do Siu M thực hiện hành vi phạm tội có được, tuy nhiên, khi mua anh H không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều “tHành khẩn khai báo”; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được trao trả cho chủ sở hữu, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không đi học nên nhận thức pháp luật hạn chế, Hội đồng xét xử xét thấy rằng, bị cáo đã từng bị kết án tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân” nên bị cáo có đủ nhận thức về hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo không đi học không ảnh hưởng đến nhận thức của bị cáo về mục đích, động cơ phạm tội, do đó không có cơ sở để áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không đi học nên nhận thức pháp luật hạn chế” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về mức hình phạt: Xét bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mức hình phạt đối với tội mà bị cáo phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; xét mức hình phạt đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cao, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án thấp hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Anh R’Ô S đã nhận lại tài sản bị và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hải H quá trình điều tra, truy tố không yêu cầu bị cáo Siu M phải trả lại số tiền 1.000.000đồng và chiếc xe mô tô hiệu Dream cũ đã giao dịch. Xét đây là giao dịch dân sự do bị lừa dối, anh Nguyễn Hải H là người mua chiếc xe do bị cáo chiếm đoạt mà có nhưng anh H là người mua ngay tình, nên anh Nguyễn Hải H có quyền yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.000.000đồng và chiếc xe mô tô đã bỏ ra mua, đổi chiếc xe do chiếm đoạt được, tuy nhiên, anh Nguyễn Hải H vắng mặt tại phiên tòa gây trở ngại cho việc giải quyết về dân sự nên áp dụng Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự tách vấn đề dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
Về vật chứng: 01 chiếc xe mô tô BKS 81D1-181.13 quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh R’Ô S là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Siu M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Siu M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Siu M 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2022.
2. Về dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự khi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu.
3. Về án phí:
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Siu M phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
4. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/02/2023, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi Hành theo quy định Điều 2 Luật thi Hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hành án, quyền yêu cầu thi Hành án, tự nguyện thi Hành án hoặc bị cưỡng chế thi Hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi Hành án dân sự; Thời hiệu thi Hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Tòa án ND tỉnh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND H. Phú Thiện; -Công an huyện Phú Thiện; -Chi cục THADS (khi án có hiệu lực PL)
Đã ký) -Bị cáo; -Bị hại;
- Người có QLNVLQ; -Lưu hồ sơ vụ án, AV.
Phạm Bá Thới Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Tòa án ND tỉnh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND H. Phú Thiện; -Công an huyện Phú Thiện; -Chi cục THADS (khi án có hiệu lực PL) -Bị cáo; -Nguyên đơn dân sự;
- Người có QLNVLQ; -Lưu hồ sơ vụ án, AV.
Phạm Bá Thới
| Nơi nhận: -Tòa án ND tỉnh; -VKSND H. Phú Thiện; -Công an huyện Phú Thiện; -Chi cục THADS (khi án có hiệu lực PL) -Bị cáo; -Nguyên đơn dân sự; - Người có QLNVLQ; -Lưu hồ sơ vụ án, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Thới |