- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu A S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lầu A S; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 124/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La như sau:
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HSPT Ngày 19 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Huy Hiệp; Bà Đinh Thị Mai Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Khương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Lầu A S. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 124/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Bị cáo có kháng cáo: Lầu A S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 7 năm 2005 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 08 tháng 19 ngày); nơi cư trú: Bản C, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Lầu A L (đã chết) và bà Vàng Thị D, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Vàng Thị D, sinh năm 1983; địa chỉ: Bản C, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư ông Lò Văn Đ, thực hiện trợ giúp pháp lý – Thuộc Trung tâm trợ giúp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Bị hại không kháng cáo: Vàng A C, sinh ngày 21/4/2005 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Vàng A C1, sinh năm 1967; địa chỉ: Bản C, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 08/4/2023, Lầu A S, sinh ngày 19/7/2005 cùng Vàng A C, sinh ngày 21/4/2005, đều trú tại bản Chiềng Đi 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; Vàng A D1, sinh ngày 27/02/2007 và Mùa A L1, sinh ngày 27/8/2006, đều trú tại bản Bó Nhàng 2, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La đi đến nhà Lò Văn Q, sinh ngày 08/4/2007, trú tại bản Mường Khoa, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La để dự sinh nhật Q. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì nhóm của S đi về, khi đi từ nhà Q về thì L1 điều khiển xe mô tô BKS 26P1 - 096.86 của S chở S ngồi phía sau, còn D1 và C đi chung một xe mô tô. Khi đi đến khu vực dốc C thuộc địa phận xã C, huyện V thì S tự điều khiển xe mô tô BKS 26P1 - 096.86 chở C ngồi phía sau, còn L1 điều khiển xe mô tô chở D1 ngồi phía sau. Khi đi đến đường 31,5m thuộc địa phận bản P, xã V, huyện V là đoạn đường vòng cua bên trái theo chiều đi (Trung tâm hành chính huyện V đến Quốc lộ F), do điều kiện thời tiết nhiều sương mù, có mưa phùn, S không nhìn rõ đường nhưng vẫn điều khiển xe đi tốc độ nhanh, không làm chủ được tay lái nên S đã điều khiển xe mô tô lao lên lề đường, vỉa hè bên phải theo chiều đi rồi đâm vào gốc cây ven đường làm xe mô tô cùng S và C bị ngã, đầu của C bị đập vào gốc cây ven đường. Sau khi tai nạn xảy ra, Vàng A C bị thương tích nặng và tử vong trên đường đưa đi cấp cứu; Lầu A S bị thương tích được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La từ ngày 08/4/2023 đến ngày 21/4/2023 thì xuất viện.
Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn vào hồi 14 giờ 50 phút, và biên bản test thử ma túy hồi 15 giờ 50 phút ngày 09/4/2023, Lầu A không có nồng độ cồn trong hơi thở, không có chất ma túy trong nước tiểu.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 930/KLGĐTT-PC09 ngày 04/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh Sơn La, kết luận nguyên nhân chết của Vàng A C như sau: “Xây xước, rách da vùng mặt, tay, chân; Đầu, mặt biến dạng, có vết thương dập nát nham nhở, toác rộng lộ xương hộp sọ; Xương đỉnh trái, xương thái dương trái, xương trán dập vỡ phức tạp, nhiều mảnh rời, lộ bán cầu đại não trái. Nguyên nhân chết: Chết do mất não”.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện giao thông. Kết luận nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của Lầu A S không có giấy phép lái xe, không làm chủ được tốc độ và tay lái nên đã điều khiển xe mô tô đang chở phía sau là Vàng A C lao vào lề đường, vỉa hè bên phải theo chiều đi rồi đâm vào gốc cây ven đường. Hậu quả làm cháu Vàng A C tử vong.
Sau khi Vàng A C tử vong Lầu A đã tự nguyện bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình người bị hại số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Vàng A C1 đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị bị cáo Lầu A S phải tiếp tục bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Bị cáo Lầu A S nhất trí tiếp tục bồi thường tổn thất tinh thần theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp cho bị hại.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 124/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La đã Quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lầu A S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lầu A S 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 9 năm 2023, bị cáo Lầu A có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Lầu A S chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội rèn luyện sửa chữa những sai phạm. Vì hiện nay hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng xa, không có anh, chị, em, người thân để nương tựa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị: Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Lầu A S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp bổ sung biên lai thu tiền số 0003609 ngày 19/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V về việc bị cáo tự nguyện nộp bồi thường số tiền 40.000.000 đồng cho gia đình bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lầu A S; sửa bản án sơ thẩm số: 124/2023/HSST ngày 15/9/2023 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La, theo hướng giữ nguyên mức hình phạt 03 năm tù nhưng cho bị cáo Lầu A được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo theo quy định.
- Quan điểm của Luật sư Lò Văn Đ bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh, điều luật và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo như quy kết tại cáo trạng và bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện V đã nêu. Tuy nhiên, kính mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết của vụ án như: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, thiếu hiểu biết kiến thức về pháp luật, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã chủ động tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qua định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình xự, xử phạt bị cáo mức hình phạt 03 năm tù nhưng cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, vì mục đích của hình phạt không phải chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, mà chủ yếu là cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật để người phạm tội thấy được sự bao dung của pháp luật.
- Bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và Luật sư bào chữa cho bị cáo. Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại cấp sơ thẩm đều hợp pháp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo. Ngày 19/9/2023 bị cáo Lầu A S có đơn kháng cáo, xét kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lầu A S tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Ngày 08/4/2023, bị cáo Lầu A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26P1 - 096.86, phía sau chở Vàng A C tham gia giao thông theo hướng từ Trung tâm hành chính huyện V đến Quốc lộ F. Khi đi đến đường 31,5m thuộc địa phận bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La (là đoạn đường vòng cua bên trái theo chiều đi, tầm nhìn bị hạn chế do sương mù, mặt đường trơn trượt do có mưa phùn), bị cáo L2 A S điều khiển xe mô tô không làm chủ được tốc độ đã lao vào vỉa hè phía bên phải theo chiều đi rồi đâm vào gốc cây ven đường. Hậu quả làm Vàng A C tử vong. Quá trình điều tra xác định Lầu A điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định.
Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo:
Bị cáo Lầu A S là người dân tộc thiểu số, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 08 tháng 19 ngày), do khả năng nhận thức về pháp luật còn thiếu hiểu biết (chưa có giấy phép lái xe theo quy định), nên đã vi phạm nghiêm trọng các quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, hậu quả làm bị hại Vàng A C tử vong và hư hỏng phương tiện giao thông. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ.
Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La đã căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L2 A S 03 năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chủ động khắc phục một phần hậu quả (bồi thường cho gia đình bị hại 3.000.000 đồng tiền mai táng phí). Tại cấp phúc thẩm thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại toàn bộ số tiền 40.000.000 đồng như đã thoả thuận. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Xét thấy, bị cáo Lầu A S có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (bị cáo mới 17 tuổi 08 tháng 19 ngày); không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, hiện nay hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng xa; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Thấy rằng bị cáo Lầu A S có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo. Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 19/9/2023 bị cáo đã nộp bồi thường số tiền 40.000.000 đồng như đã thoả thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại (theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003609 ngày 19/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Sơn La), cần chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lầu A S; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lầu A S; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 124/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La như sau:
1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lầu A S 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (19/12/2023).
Giao bị cáo Lầu A S cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Lầu A S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lầu A S cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo Lầu A S thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo Lầu A S đã tự nguyện nộp bồi thường số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) cho người đại diện hợp pháp của bị hại (theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003609 ngày 19/9/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Lầu A S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/12/2023).
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Huy Hiệp
Đinh Thị Mai Lan
Phạm Tuấn Minh
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sơn La; - TAND huyện V, tỉnh Sơn La; - VKSND huyện V, tỉnh Sơn La; - Cơ quan CSĐT-Công an huyện V, tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện V, tỉnh Sơn La; - Phòng KTNV-THA; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Minh |