- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 19 - 10- 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hiền.
2. Bà Hoàng Thị Hội.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Nga - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Ngƣời tiến hành tố tụng:
- Kiểm sát viên: Bà Trịnh Thị Thủy.
- Thư ký Tòa án: Ông Hà Văn Thiết.
- Ngƣời tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Đinh Trung Bắc, ông Phạm Trung Hiếu.
Ngày 19 tháng 10 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/5/1996; Nơi sinh huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản C, xã CK, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng phái, Đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn P, sinh năm: 1974; con bà Hà Thị N, sinh năm: 1978; Vợ con chưa có.
Tiền án:
- Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số: 65/2018/HHST ngày 09/02/2018. (Chưa xóa án tích).
- Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số: 31/2020/HHST ngày 16/4/2020. (Chưa xóa án tích).
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 24/7/2023, tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu Lóng Sập phối hợp với Công an xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại bản Cang, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu, kiểm tra phát hiện Lò Văn P đang cất giấu trong người 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng cực chất bột (P khai nhận đó là ma tuý để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La Đồn Biên phòng Cửa khẩu Lóng Sập phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh lấy mẫu trưng cầu giám định: chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,37 gam. Kết quả giám định là ma túy; loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 24/7/2023, bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực suối Co Bá thuộc bản Cang, xã Chiềng Khừa gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng cục bột màu trắng là Heroine với giá 50.000 đồng, mua được ma túy, P cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái đi bộ về, trên đường đi về đến bản Cang, xã Chiềng Khừa thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Do các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 197/CT-VKS, ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cáo Lò Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lò Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng nêu.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 05 năm đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng vỏ niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu trắng; 01 phong bì đựng test thử ma túy.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu và khẳng định lời khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn tự nguyện đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 24/7/2023, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định số 1810 ngày 25/7/2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/7/2023 Lò Văn P có hành vi tàng trữ trái phép 0,37 gam (không phẩy ba mươi bảy gam) ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Lò Văn P đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định theo Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Lò Văn P là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về khung hình phạt áp dụng và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy, có hai tiền án vào các năm 2018 và 2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội mới nên vi phạm tình tiết định khung hình phạt thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, mặc dù nhận thức được mọi hành vi liên quan đến chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy trở thành người có ích cho gia đình và xã hội và đảm bảo biện pháp răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội, tuy nhiên quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận tội đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy, qua xác minh bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, là đối tượng nghiện chất ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì đựng vỏ niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu trắng; 01 phong bì đựng test thử ma túy là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về nguồn gốc chất ma túy:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông không quen biết bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, do không biết tên, tuổi, địa chỉ người này nên không có căn cứ điều tra xử lý.
- Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày, nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xin được miễn án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Xử phạt bị cáo Lò Văn P 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 3. Vật chứng: Căn cứ điểm c c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng vỏ niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu trắng; 01 phong bì đựng test thử ma túy.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/10/2023).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn P.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/10/2023).
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Sơn La; - VKS ND tỉnh; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - THAHS; - Chi cục THADS; - Trại giam; - STP tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; -Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đèo Văn Quỳnh |