- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Phước An - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 09-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 228/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Cao Phước A, sinh năm 1990 tại tỉnh A; địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Phước S, sinh năm 1960 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Trịnh Thị Thùy D, sinh năm 1993 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 02/12/2011, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh A xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 29/2011/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2012 và thi hành phần án phí.
Ngày 28/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 năm 06 tháng tù về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số 109/2022/HS-ST.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/8/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Lê Thanh C, sinh năm 1996; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 15/8/2021, tại chốt kiểm dịch thuộc đoạn đường Mỹ Phước Tân Vạn thuộc khu phố 9, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Công an phường P bắt quả tang Cao Phước A điều khiển xe mô tô biển số 86B4-030.32 chở Lê Thanh C (sinh năm 1996, HKTT: Thôn 1, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gi) bên trong cốp xe mô tô cất giấu 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 28,9891 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Cao Phước A khai: Gói ma túy bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang là của 01 người phụ nữ tên Bé Lan (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê An vận chuyển để được Lan cho tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng. Ngoài ra, khoảng đầu tháng 5/2021, An có bán ma túy cho Lê Thanh C tại khu vực gần nhà nghỉ Mỹ Phượng thuộc khu phố 3B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Dương. Ngày 14/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển tin báo liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Cao Phước A xảy ra trên địa bàn thị xã C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương, Cao Phước A và Lê Thanh C thống nhất khai nhận: A và C quen biết nhau qua mạng xã hội, cả hai đều nghiện ma túy đá (Methamphetamine). Nguồn ma túy mà A có để sử dụng do mua lại của người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực gần siêu thị Aeon Mall thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khoảng đầu tháng 5/2021, C sử dụng tài khoản zalo “cườngsever” nhắn tin qua tài khoản zalo “Thành Quỷ” của A hỏi mua 100.000 đồng ma túy đá và gửi định vị vị trí một bãi đất gần khách sạn Mỹ Phượng để A đến giao ma túy cho Cường. An điều khiển xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số, do An mượn của một người bạn không rõ lai lịch) đến địa điểm hẹn và bán cho C 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá 100.000 đồng, do C không có tiền nên A cho C thiếu nợ. Sau đó, C đã sử dụng hết số lượng ma túy mua được.
Khoảng giữa tháng 6/2021, C liên hệ với Bé Lan hỏi mua 100.000 đồng ma tuý đá và hẹn Lan giao ma túy cho C tại bãi đất gần khách sạn Mỹ Phượng. Lan nói C đứng đợi sẽ có người đến giao. Sau đó, Lan gọi điện thoại kêu An đi đến trụ thẻ ATM của ngân hàng BIDV cạnh đường Mỹ Phước – Tân Vạn thuộc phường Thới Hoà, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và đưa cho A 01 túi nylon màu xanh bên trong có 01 chai trà sữa nhờ A đi đến bãi đất gần nhà nghỉ Mỹ Phượng giao cho một người đàn ông đang đợi và nhận lấy 100.000 đồng mang về, Lan sẽ trả công cho An 50.000 đồng. A hỏi Lan tại sao thuê A đi giao trà sữa thì Lan nói do con Lan bị bệnh nên không đi giao được. Do trước đây, A nghe Lan nói làm nghề bán trà sữa nên tin tưởng và đồng ý cầm bịch nylon bên trong có chai trà sữa đi đến gần nhà nghỉ Mỹ Phượng thì thấy một người đàn ông đeo khẩu trang đứng đợi vẫy A lại hỏi “có phải giao trà sữa không”. Lúc này, A nghe giọng nói thì biết người này là C nhưng vẫn nghĩ C mua trà sữa của Lan với giá cao do đang trong giai đoạn cách ly dịch Covid nên A không nói gì mà đưa chai trà sữa cho C và lấy 100.000 đồng rồi đi về. Đối với C khi A đến giao túi nylon bên trong có chai trà sữa thì C nhận ra A nhưng Ccũng không nói gì với A. Sau khi nhận chai trà sữa đem về, C đỗ nước ra thì có 01 túi nylon hàn kín chứa ma túy đá, C lấy sử dụng.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSBC ngày 06/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Cao Phước An về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa;
- Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo A đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị Cao Phước A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng truy tố, không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:
Tại phiên toà, bị cáo Cao Phước A khai nhận: Khoảng đầu tháng 5/2021, tại khu vực gần nhà nghỉ Mỹ Phượng thuộc khu phố 3B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Dương, Cao Phước A có hành vi bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 100.000 đồng cho Lê Văn C. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, Sơ đồ hiện trường, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Do đó, hành vi của bị cáo A đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đúng với Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về tính chất, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Điều 3 Luật phòng chống ma túy, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành phạm tội bị cáo có đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình; bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng 02 lần bị kết án về các tội: “Trộm cắp tài sản”, “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Xét hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị cáo An phù hợp, nên chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Các Điều 125, 136 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cao Phước A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cao Phước A: 02 (hai) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tổng hợp hình phạt với Bản án số 109/2022/HS-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Buộc bị cáo Cao Phước A phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2021.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Cao Phước A phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã C; - Công an thị xã C; - Chi cục THADS thị xã C. - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Hằng |