- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh Thắng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 16- 02 -2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bích Nguyệt và bà Phạm Thị Diệu Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 11 năm 1988 tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: Tổ 8, phường C, thành phố T, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: Tổ 6, phường Ph, thành phố T, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị X; có vợ Hoàng Thị H; Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 22/7/2022 đến nay; có mặt.
2. Họ và tên: Vũ Minh T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 30 tháng 3 năm 1993 tại thành phố Sông Công, Thái Nguyên; Nơi thường trú: Tổ dân phố M, phường B, thành phố S, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Khánh T và bà Đào Thị Mai A; Vợ: Đinh Thị H (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/8/2022, Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 22/7/2022 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Vũ Khánh Th, sinh năm 1972; Trú tại: Tổ dân phố M, phường B, thành phố S, tỉnh T; vắng mặt.
+ Chị Dương Thị X, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh T; vắng mặt.
+ Chị H Oanh Ễ, sinh năm 1989; Trú tại: Tổ 6, phường Ph, thành phố T, tỉnh T; vắng mặt.
- Người chứng kiến:
+ Anh Vũ Nam V, sinh năm 1993; Trú tại: Tổ dân phố M, phường B, thành phố S, tỉnh T; vắng mặt.
+ Ông Vũ Ái Q, sinh năm 1953; Trú tại: Tổ dân phố M, phường B, thành phố S, tỉnh T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 00 giờ 00 phút ngày 22/7/2022, Vũ Minh T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu trắng có lắp sim thuê bao số 0396 330 168 của T gọi đến số điện thoại 0878 077 602 của Nguyễn Văn H hỏi mua 200.000đồng ma túy “đá” và 100.000đồng tiền ma túy “ngựa”. H đồng ý và hẹn T đến ngõ 180, đường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên để nhận ma túy. Sau đó, T đến điểm hẹn gặp H và đưa cho H số tiền 300.000đồng, H nhận tiền và đưa cho T 01 túi nilon bên trong chứa chất ma túy tổng hợp; tinh thể màu trắng gọi là „đá” và 01 viên nén màu hồng gọi là “ngựa”. T cầm gói ma túy mang về nhà, để trên mặt bàn trong phòng ngủ gần cửa ra vào, chưa sử dụng thì xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau to tiếng với ông Vũ Khánh T (sinh năm 1972, trú tại: Tổ dân phố (TDP) Mỏ Chè, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, là bố đẻ của T), sau đó T bỏ đi khỏi nhà. Thấy T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, chửi bới và đe dọa nên ông Thành đã báo Công an phường Bách Quang đến làm việc kiểm tra phòng ngủ của T. Tổ công tác đã lập biên sự việc, thu giữ và niêm phong các vật chứng gồm:
- 01 túi nilon bên trong chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng (được niêm phong vào bì ký hiệu A) 01 chai nhựa bị biến dạng, phần nắp chai cắm 02 ống hút bằng nhựa (thu giữ tại mặt bàn bên pH cửa ra vào phòng ngủ);
- 18 túi nilon màu trắng, bên trong đều bám dính chất tinh thể màu trắng (được niêm phong vào bì ký hiệu B) và 05 bật lửa ga (thu giữ tại ngăn kéo bàn bên pH cửa ra vào phòng ngủ);
- 01 hộp giấy màu vàng cam có kích thước (5x20x30)cm, trong hộp chứa nhiều đoạn ống hút và nhiều mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng), thu tại sàn nhà phòng ngủ;
- 31 túi nilon màu trắng, bên trong đều bám dính chất bột màu hồng và tinh thể màu trắng (được niêm phong vào bì ký hiệu C), thu giữ tại sàn phòng ngủ;
- 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 02 ống thủy tinh dài 04cm (được niêm phong vào bì ký hiệu D), thu giữ tại nóc tủ nhựa gần cửa ra ban công phòng ngủ. Cùng ngày Công an phường Bách Quang đã chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố sông Công giải quyết theo thẩm quyền.
Sáng ngày 22/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sông Công triệu tập Vũ Minh T, T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu trắng có lắp sim thuê bao số 0396 330 168 và khai nhận số ma túy mà Công an phường Bách Quang thu giữ ở trên là của T mua của Nguyễn Văn H ở Tổ 6, phường Ph, thành phố T, tỉnh T với giá 300.000đồng về chưa kịp sử dụng thì xẩy ra cãi, chửi nhau với ông Thành nên T bỏ nhà đi quên không đem theo. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Nguyễn Văn H tại Tổ 6, phường Ph, thành phố T, tỉnh T, kết quả thu giữ : 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng trong vỏ bao thuốc lá Thăng long tại túi quần phía trước bên trái của Nguyễn Văn H đang mặc trên người; 05 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 06 viên nén màu hồng bên trong ví da màu trắng kích thước (8x10)cm, dưới đệm ở đầu giường ngủ của H; 01 vỏ chai nhựa loại 150ml, nắp chai gắn hai ống hút nhựa màu hồng và màu vàng tại nền nhà gian phòng ngủ của H, các vật chứng nêu trên được niêm phong theo quy định.
Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công tiến hành trưng cầu giám định đối với số chất tinh thể màu trắng, các viên nén màu hồng thu giữ Vũ Minh T và Nguyễn Văn H.
Tại kết luận giám định số 1142/KL-KTHS ngày 30/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:
+ Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,167 gam;
+ Viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,091 gam;
+ Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu H2 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,230 gam;
+ Các viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu H3 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,184 gam;
+ Các viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu H4 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,554 gam;
+ Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu H5 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 1,193 gam; .
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn H khai nhận như sau: H bắt đầu sử dụng ma túy “đá” và “ngựa” từ năm 2019 đến nay. Quá trình sử dụng ma túy H quen và biết Dương Thị X (tên thường gọi là Thu), sinh năm 1989, Nơi đăng ký HKTT tại: Xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh T; chỗ ở: Tổ 4, phường P, thành phố T, tỉnh T, là người có ma túy bán. Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân và sử dụng ma túy nên H gặp Xuân xin được bán ma túy thuê cho Xuân thì Xuân đồng ý giao ma túy cho H bán và sẽ cho H sử dụng ma túy tương ứng với số tiền 300.000đồng/ngày và trả công 200.000đồng/ngày. Ngày 21/7/2022, H bắt đầu lấy ma tuý của Xuân để bán kiếm lời. Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 22/7/2022, khi H đang ở phòng trọ thuộc tổ 6, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên thì nhận được cuộc gọi đến từ số điện thoại 0396.330.168 nói giọng nam giới (sau H biết tên là Vũ Minh T) hỏi mua của H 200.000đồng tiền ma túy “đá” và 100.000đồng tiền ma túy “ngựa”, H đồng ý và hẹn T đến ngõ 180, đường Phú Xá, thuộc phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên để lấy. Sau khi giao dịch xong H đem ma túy mang ra đường bê tông trước cửa phòng trọ, thì gặp T đi xe mô tô, loại xe số, sơn màu xanh đen đến, (H không nhớ biển kiểm soát), T đưa cho H 300.000đồng, H nhận tiền và đưa lại cho T 01 túi nilon bên trong chứa ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa” sau đó T bỏ đi. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công khám xét người và tại chỗ ở của H. Cơ quan điều tra đã thu giữ số ma túy còn lại mà Xuân giao cho H bán, nhưng chưa kịp bán thì bị thu giữ. H tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, đã qua sử dụng.
Ngày 09/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công, khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Dương Thị Xuân tại: Tổ 4, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh ngọc, đã qua sử dụng (được niêm phong vào bì hý hiệu K); 01 thẻ sim điện thoại có số thuê bao 0869 076 222 (được niêm phong vào bì hý hiệu Q), quá trình điều tra Xuân không thừa nhận việc Xuân giao ma túy cho H và thuê H bán như H đã khai.
Quá trình điều tra các bị can Vũ Minh T, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của T, H phù hợp với lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng, chứng cứ của vụ án gồm:
- 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,067 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu Al; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có 18 túi nilon bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng và chất bột màu hồng; 01 bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có 31 túi nilon màu trắng bám dính chất tinh thể màu trắng và chất bột màu hồng; 01 bì niêm phong ký hiệu D, bên trong chứa túi nilon có 02 ống thủy tinh dài 04cm; 01 hộp giấy màu cam có kích thước (5x20x30)cm, trong hộp có chứa nhiều đoạn ống hút và nhiều mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 chai nhựa bị biến dạng, nắp chai cắm 02 ống hút bằng nhựa; 05 bật lửa ga; 01 bì niêm phong ký hiệu H2, bên trong có 0,130 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H2; 01 bì niêm phong ký hiệu H3, bên trong có 0,084 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H3; 01 bì niêm phong ký hiệu H4, bên trong có 0,452 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H4; 01 bì niêm phong ký hiệu H5, bên trong có 1,073 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H5; 01 bì niêm phong ký hiệu H6, bên trong có vỏ bì H, H1 và 07 túi nilon; 01 vỏ chai nhựa loại 150ml, nắp chai có lỗ thủng gắn ống hút nhựa màu hồng và màu vàng; 01 ví da màu trắng kích thước (8x10)cm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long;
- 01 bì niêm phong ký hiệu ĐT, bên trong có 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, gắn thẻ sim số thuê bao 0878.077.602; 01 bì niêm phong ký hiệu T, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, gắn thẻ sim số thuê bao 0396 330 168. Các vật chứng trên, hiện được bảo quản tại kho bảo quản tại Công an thành phố Sông Công.
- đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh ngọc, (đã qua sử dụng) và 01 thẻ sim số thuê bao 0869 076 222 thu giữ của Dương Thị Xuân, xét thấy không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 03/ CT-VKS ngày 30/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy đinh tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với Nguyễn Văn H: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn H từ 04 đến 05 năm tù. Đối với Vũ Minh T: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Vũ Minh T từ 18 đến 24 tháng tù. miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Minh T; áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung số tiền 05 đến 06 triệu đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn H;
Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng là tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn H.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu các vật chứng không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, gắn thẻ sim số thuê bao 0878.077.602 đựng trong bì niêm phong ký hiệu ĐT; 01 bì niêm phong ký hiệu T, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, gắn thẻ sim số thuê bao 0396 330 168 đựng trong bì niêm phong ký hiệu T. Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Các bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử các bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là không oan, đúng người, đúng tội.
Các bị cáo nói lời sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 22/7/2022, tại Ngõ 180, đường Phú Xá, thuộc phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn H đã có hành vi bán 0,258gam ma túy, loại Methamphetamine cho Vũ Minh T với giá 300.000đồng. Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà ở TDP Mỏ Chè, phường Bách Quang, thành phố Sông Công mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phường Bách Quang phát hiện, thu giữ. Hồi 14 giờ 00 phút ngày 22/7/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công, khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Nguyễn Văn H tại Tổ 6, phường Ph, thành phố T, tỉnh T, thu giữ 2,161gam ma túy, loại Methamphetamine H chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy đinh tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015. Nội dung các điều luật quy định như sau:
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 7 năm”.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c, ..., Methamphetamine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngày 08/8/2022, bị cáo Vũ Minh T bị Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội nhưng lối sống buông thả, không chịu tu dưỡng bản thân nên đã vướng vào tệ nạn ma túy, mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo T tại phiên tòa là phù hợp. Đối với bị cáo H có nhân thân tốt, có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, có động lực để cải tạo trở thành người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo T là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T. Bị cáo H mua bán trái phép chất ma túy để thu lời bất chính nên cần phạt bổ sung một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước theo quy định khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, gắn thẻ sim số thuê bao 0878.077.602 đựng trong bì niêm phong ký hiệu ĐT thu của bị cáo H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, gắn thẻ sim số thuê bao 0396 330 168 đựng trong bì niêm phong ký hiệu T thu của bị cáo T là phương tiện liên lạc để giao dịch mua bán ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy trong vụ án bị cáo Nguyễn Văn H khai là của Dương Thị Xuân là người giao số ma túy bị thu giữ cho H để bán kiếm lời vào ngày 21/7/2022; Vũ Minh T khai ngày 22/7/2022 sử dụng số điện thoại di động 0396 330 168 gọi đến số điện thoại di động 0866 076 222 của Xuân để hỏi mua ma túy, nhưng trong quá trình điều tra Xuân không thừa nhận hành vi trên nên chưa đủ căn cứ xem xét, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Về hình phạt:
Đối với Nguyễn Văn H: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn H 36 (ba mƣơi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2022.
Đối với Vũ Minh T: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Vũ Minh T 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2022.
2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Minh T.
Áp dụng khoản 5 Điều 251Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
4. Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,067 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu Al;
- 01(một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì ký hiệu A;
- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có 18 túi nilon bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng và chất bột màu hồng;
- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có 31 túi nilon màu trắng bám dính chất tinh thể màu trắng và chất bột màu hồng;
- 01 bì niêm phong ký hiệu D, bên trong chứa túi nilon có 02 ống thủy tinh dài 04cm;
- 01 hộp giấy màu cam có kích thước (5x20x30)cm, trong hộp có chứa nhiều đoạn ống hút và nhiều mảnh giấy bạc đã qua sử dụng;
- 01 chai nhựa bị biến dạng, nắp chai cắm 02 ống hút bằng nhựa;
- 05 bật lửa ga;
- 01 bì niêm phong ký hiệu H2, bên trong có 0,130 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H2;
- 01 bì niêm phong ký hiệu H3, bên trong có 0,084 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H3;
- 01 bì niêm phong ký hiệu H4, bên trong có 0,452 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H4;
- 01 bì niêm phong ký hiệu H5, bên trong có 1,073 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu H5;
- 01 bì niêm phong ký hiệu H6, bên trong có vỏ bì H, H1 và 07 túi nilon;
- 01 vỏ chai nhựa loại 150ml, nắp chai có lỗ thủng gắn ống hút nhựa màu hồng và màu vàng;
- 01 ví da màu trắng kích thước (8x10)cm;
- 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, gắn thẻ sim số thuê bao 0878.077.602 đựng trong bì niêm phong ký hiệu ĐT; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, gắn thẻ sim số thuê bao 0396.330.168 đựng trong bì niêm phong ký hiệu T.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/01/2023 giữa Công an thành phố Sông Công và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn H.
6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Cơ quan THAHS TP Sông Công; - Chi cục THADS TP Sông Công; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, người TGTT khác; - Lưu: HS; VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Lan Anh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |