vanban.org

Bản án 05/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1582/KL - KTHS ngày 27/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐT
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS - ST
Ngày: 17-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH

Th5 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới

Ông Nguyễn Đình Thắng

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tham gia phiên tòa: ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2022/TLST - HS ngày 22 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức Th; sinh ngày 15/10/1968, tại huyện TG, tỉnh Điện Biên; nơi thường trú: tổ 3, phường HL, Th5 phố ĐB, tỉnh Điện Biên; chỗ ở: tập thể Công ty cổ phần than SH thuộc khu NHĐ, phường HQ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Th1 và bà Nguyễn Thị Th2; vợ: Bùi Thị Th3; con: có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/9/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992; nơi thường trú: tổ 3, phường HL, Th5 phố ĐB, tỉnh Điện Biên; vắng mặt

Chị Đỗ Thị Nh, sinh năm 1983; nơi thường trú: thôn BT, xã ĐS, huyện YT, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt

- Người chứng kiến: anh Ngô Văn Đ, anh Yên Quang Th; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 20/9/2022, tại khu vực cổng Công ty SV thuộc khu NHĐ, phường HQ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã ĐT phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Th 01 (một) túi nilon bên trong có 01 (một) gói giấy chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu 6700, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98M9-8612 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị Nhung.

Tại bản Kết luận giám định số 1582 ngày 27/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật thu giữ của Nguyễn Đức Th là chất ma túy; loại Heroine; khối lượng: 0,206 gam (không phẩy hai không sáu gam).

(Heroine nằm trong Danh mục IA, STT:09 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức Th khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, Th khai: khoảng 19 giờ ngày 20/9/2022, Th sử dụng điện thoại nhãn hiệu Nokia 6700 gọi cho một người đàn ông tên Th5 (không rõ lai lịch, địa chỉ) là chỗ quan hệ xã hội hỏi xin ma túy về sử dụng thì Th5 đồng ý và hẹn đến khu vực xã HTT, thị xã ĐT. Theo hướng dẫn của Th5, Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98M9-8612 đến gặp Th5. Tại đây, Th5 đưa cho Th 01 (một) túi nilon bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng chứa ma túy. Th cầm ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đến khu Nội Hoàng Đông, phường Hoàng Quế, thị xã ĐT, Th bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức Th khai nhận như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: trước thời điểm năm 2022, anh làm lái xe tại thị xã ĐT. Anh có mua một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M9 - 8612 với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng) của một người đàn ông không quen biết tại quán trà đá. Anh và người đàn ông mua bán qua giấy viết tay, anh trả tiền và nhận xe cùng các giấy tờ. Việc mua bán chỉ có hai người, không có ai chứng kiến. Do chiếc xe đã cũ nên anh không kiểm tra cụ thể thông tin và đặc điểm ngoại hình của chiếc xe. Trong quá trình sử dụng anh đã làm mất giấy mua bán xe. Sau đó, anh chuyển địa điểm làm việc đến nơi khác, không còn nhu cầu sử dụng nên đã để lại xe cho bố anh sử dụng. Việc bố anh dùng chiếc xe liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy anh không được biết. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị Nh vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: cuối năm 2008, chị có mua 01 chiếc xe mô tô Wave màu đen, sau đó đăng ký biển kiểm soát 98M9 - 8612 để sử dụng. Khoảng năm 2011 hoặc 2012 chị đã bán chiếc xe này cho một nam Th niên, chị không nhớ hình dạng, đặc điểm cụ thể. Quá trình mua bán có viết giấy viết tay nhưng do thời gian đã lâu nên chị không còn lưu giữ. Hiện tại chiếc xe do ai quản lý chị không biết.

Người chứng kiến ông Ngô Văn Đ và ông Yên Quang Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: vào khoảng 20 giờ 05 phút ngày 20/9/2022, các ông được cơ quan Công an mời đến khu vực cổng Công ty SV, thuộc khu NHĐ phường HQ để chứng kiến lực lượng Công an bắt quả tang 01 (một) người đàn ông có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ, người đàn ông khai nhận họ tên là Nguyễn Đức Th, Th xin số ma túy của một người đàn ông tên Th5 để sử dụng. Sau đó cơ quan Công an lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 136/CT- VKS - ĐT ngày 18 - 11 - 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố bị cáo Nguyễn Đức Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/9/2022

- Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1582/KL - KTHS ngày 27/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) sim điện thoại 0389.518.355

+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700, màu vàng;

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng, gắn sim số 0795.319.663;

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thị xã ĐT, lập hồi 20 giờ 05 phút ngày 20/9/2022 tại khu Nội Hoàng Đông, phường Hoàng Quế, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 19 giờ 55 phút ngày 20/9/2022, tại khu vực cổng Công ty SV thuộc khu NHĐ, phường HQ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức Th có hành vi tàng trữ trái phép 0,206 gam (không phẩy hai không sáu gam) chất ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an thị xã ĐT phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Đức Th6 được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Th7 được Ủy ban hành chính Trung ương tự trị Tây Bắc tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, bản thân nghiện ma túy, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) chiếc điện thoại di động Nokia 6700 và sim kèm theo bị cáo dùng để liên lạc với Th5, liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 6s Plus và sim kèm theo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo;

Về các vấn đề khác: đối với người đàn ông tên Th5 đã cho Th ma túy theo lời khai của Th, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98M9 - 8612 và giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị Nh, số khung: RLHHC 12158Y097960; số máy: không xác định được. Bị cáo Th khai chiếc xe là tài sản của anh Nguyễn Tuấn A (con trai bị cáo) cho bị cáo mượn. Quá trình điều tra, chị Đỗ Thị Nh khai chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M9 - 8612 là của chị mua cuối năm 2008, do chị có nhu cầu đổi xe nên chị bán lại cho một thanh niên khoảng thời gian năm 2011, giờ chị không biết chiếc xe trên do ai sử dụng. Anh Tuấn A khai mua của người không quen biết, hai bên có viết giấy mua bán, tuy nhiên anh đã làm mất giấy tờ mua bán xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT đã đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu số 1151/TB - ĐTTH ngày 04/10/2022, đến nay chưa xác định được chủ sở hữu, nên cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT tiếp tục xử lý theo thẩm quyền.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 20/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1582/KL - KTHS ngày 27/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) sim điện thoại 0389.518.355

+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700, màu vàng;

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng, gắn sim số 0795.319.663;

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 23 ngày 21 tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Đức Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./

Cỡ chữ