- Tranh chấp gì? án hình sự — "Âu Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 13-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hứa Minh Thân;
Ông Lương Đông Hưng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hồng Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Ông Phù Trung Tướng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện V,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
106/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 109/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 và Quyết định
thay đổi người tiến hành tố tụng số 01/2022/QĐ-TA ngày 30/12/2022 đối với bị
cáo:
Âu Văn T; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 09 tháng 3 năm 2000 tại
tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Q, xã T, huyện
V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc:
Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Âu Văn S
(sinh năm 1978) và bà Triệu Thị X (sinh năm 1976); vợ, con: Chưa có; tiền án,
tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 05/2018/HSST ngày 06/02/2018,
Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội Tàng
trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); đã bị xử lý vi phạm hành chính,
chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 08/9/2022, tạm giam từ ngày 14/9/2022
đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn Đ – Luật sư thực hiện trợ giúp
pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Âu Văn B; sinh năm: 1987; địa chỉ: Thôn Q, xã
T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 07/9/2022, sau khi bán được 10kg quả hồng được
200.000 đồng, Âu Văn T đi bộ đến cổng chào của thôn Q, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn mua 200.000 đồng tiền ma túy với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (bị cáo không biết họ tên, địa chỉ) được 02 gói ma túy. Sau đó, Âu Văn T mang ma túy lên đồi để sử dụng. Bị cáo dùng hết một phần ma túy trong một gói, số ma túy còn lại bị cáo cất vào túi áo và đi về nhà. Khoảng 06 giờ ngày 08/9/2022 khi Âu Văn T đang đứng trước cửa nhà thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật gồm 02 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroin.
Tại Kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 10/9/2022 của Phòng Kỹ
thuật Hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,104 gam (đã trừ bì).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Âu Văn T thành khẩn khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Do nghiện ma túy nên bị cáo đã nhiều lần đi mua ma túy với nhiều người để sử dụng. Bị cáo thường mua ma túy với ông Hoàng Văn L ở thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; ông Hoàng Văn T ở thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; anh Phương Văn L ở thôn Q, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và một người đàn ông tên C, khoảng 40 tuổi.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 21/12/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Âu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề
nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Âu Văn T từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu được sau giám định và các vỏ gói giấy. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với
đại diện Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm cho bị cáo
tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo là
người dân tộc thiểu số, đề nghị xử phạt bị cáo 18 tháng tù.
Lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được
hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên,
người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ
quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và
phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết
luận: Ngày 08/9/2022, bị cáo Âu Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,104
gam ma túy loại Heroine để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ
độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã
hội tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm
khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được
tác hại của ma túy gây ảnh hưởng giống nòi, suy kiệt kinh tế; nhận thức hành vi
tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu
của bản thân nên cố ý thực hiện.
Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Âu Văn T phạm
tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ
luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng
Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà
bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo
được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một
phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về nhân thân: Tại Bản án số 05/2018/HSST ngày 06/02/2018, Tòa án
nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 13/10/2018. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự, bị cáo đương nhiên được xóa án tích.
Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc số 20/2022/QĐ-TA ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng đối với Âu Văn T. Tuy nhiên trong thời gian chưa chấp hành quyết định, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và bị bắt giữ trong vụ án này. Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý kỷ luật nhưng đánh giá bị cáo là người có nhân thân không tốt.
Về hình phạt bổ sung: Trên cơ sở chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và
lời khai tại phiên tòa thể hiện bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không sở hữu tài sản có giá trị. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội,
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận. Xét các ý kiến của người bào chữa cho bị cáo phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận; đối với đề nghị xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do bị cáo là người dân tộc thiểu số không được chấp nhận do không thuộc các trường hợp luật định.
Đối với những đối tượn bán ma túy cho Âu Văn T xét thấy: Người
đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 07/9/2022; người đàn ông tên C, khoảng 40 tuổi và người tên Hoàng Văn L ở thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không làm rõ được nên không có căn cứ để xử lý. Đối với đối tượng Phương Văn L đã bị xét xử ở vụ án khác; đối tượng Hoàng Văn T ở thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã chết ngày 24/9/2022 nên không xem xét, xử lý.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Chất ma túy còn lại sau
giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các vỏ gói giấy dùng để gói ma túy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a,
c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố
tụng Hình sự.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều
331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm
a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331;
Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh
Tuyên bố bị cáo Âu Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt
Xử phạt bị cáo Âu Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 08/9/2022).
3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư có chữ “QT Âu Văn T” (cũ), có chữ ký
cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của
phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy
đựng tổng cộng 0,082 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu
giám định hết) và 02 (hai) vỏ gói giấy (cũ), là vật chứng đã qua giám định.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng
ngày 23/12/2022 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh
Lạng Sơn).
4. Án phí
Bị cáo Âu Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự
sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Văn Lãng; - CQĐT Công an huyện Văn Lãng; - Nhà tạm giữ Công an huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hằng |