- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn T phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 18/01/2023.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| ơ TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 18 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Biên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bộ, Kiểm sát viên;
Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Ngô Văn T, sinh năm 1967; tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn G, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đức T1 và bà Lương Thị L; vợ là Hoàng Thị Thanh H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 22/12/2022 đến ngày 27/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại, có mặt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn S, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Ông Lương Văn K, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
5. Ông Dương Xuân H1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
6. Ông Nguyễn Việt H2, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
7. Anh Giáp Văn H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
8. Ông Phạm Tiến D, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã T1, huyện T2, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
9. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
10. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
11. Cháu Ngô Tuấn H4, sinh ngày 14/7/2009, do ông Ngô Văn A, sinh năm 1979 là bố đẻ, đại diện theo pháp luật; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1962, vắng mặt; anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1987, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/12/2022, Ngô Văn T đang ở cửa hàng tạp hoá của gia đình thì có Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn T5 đến, L bảo T “Ghi cho em mấy con lô, đề”. T đồng ý và lấy 01 tờ lịch, một mặt có số 21, mặt còn lại màu trắng, xé một góc ra ghi các cặp số mà L mua gồm số đề 66, 81, 75 - 30.000 đồng; số lô 66, 28, 32 - 20 điểm. Tổng số tiền L phải trả cho Tự là 1.440.000 đồng. Sau khi T ghi xong thì L lấy bút tự ghi các cặp số này vào mẩu giấy và L đưa cho T số tiền 1.500.000 đồng, T định lấy tiền để trả lại thì lực lượng Công an huyện Tân Yên kiểm tra bắt quả tang. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:
- 01 tờ giấy kẻ ngang hình chữ nhật có chữ “MINH CHÂU”, cả hai mặt đều có các chữ, số, ký tự bằng mực màu đen tại túi quần phía trước bên phải của Ngô Văn T (ký hiệu A3);
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, ốp lưng màu nâu, có số Imei1: 868289059610931; Imei2: 868289059610923, lắp sim số 0327603477 và sim số 0397231477 ở túi quần phía trước bên trái của Ngô Văn T;
- Số tiền 1.500.000 đồng, gồm 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 05 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng tại túi quần phía trước bên phải của Ngô Văn T;
- 01 tờ lịch không rõ hình, bị xé một góc, một mặt có số “21” màu tím, một mặt có các chữ, số, ký tự bằng mực màu đen tại bàn uống nước của quán tạp hoá nơi Ngô Văn T bán số lô số đề (ký hiệu A2);
- 01 mẩu giấy không rõ hình, một mặt có các chữ, số in sẵn màu đen và màu đỏ, mặt còn lại có ghi các chữ, số, ký tự bằng mực màu đen tại túi quần phía trước bên trái của Nguyễn Văn L (ký hiệu A1);
- 01 chiếc bút viết trên vỏ bút có chữ “Cyber 21”, mực màu đen tại bàn uống nước của quán tạp hoá nơi Ngô Văn T bán số lô số đề;
2. Cùng ngày 22/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Yên đã ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Ngô Văn T, quá trình khám xét thu giữ: 01 quyển sổ có bìa màu xanh trắng, vàng có chữ “GENERAL”, trong sổ có các tờ giấy kẻ ngang, trên giấy có nhiều chữ viết chữ số ký tự (ký hiệu từ A4 đến A9).
Tại kết luận giám định số: 2404/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ viết của Nguyễn Văn L trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M6) là do cùng một người viết ra.
- Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, từ A5 đến A9) so với chữ viết của Ngô Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7 đến M12) là do cùng một người viết ra.
Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang không kết luận giám định:
+ Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A4) so với chữ viết của Ngô Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M7 đến M12) do xuất hiện những đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được
+ Chữ viết (chữ số) tẩy xóa, sửa chữa trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A6, A7, A8) do không đủ cơ sở khoa học để kết luận giám định.
Quá trình điều tra xác định: 01 tờ giấy kẻ ngang hình chữ nhật có chữ “MINH CHÂU”, cả hai mặt đều có các chữ, số, ký tự bằng mực màu đen tại túi quần phía trước bên phải của Ngô Văn T thu giữ khi bắt quả tang là tờ cáp tổng của T bán số lô, số đề cho khách vào ngày 21/12/2022; 01 tờ lịch không rõ hình, bị xé một góc, một mặt có số “21” màu tím, một mặt có các chữ, số, ký tự bằng mực màu đen tại bàn uống nước của quán tạp hoá, thu giữ khi bắt quả tang là các số lô, số đề T bán cho khách vào ngày 22/12/2022.
3. Quá trình điều tra xác định Ngô Văn T đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với số tiền trong từng lần đánh bạc cụ thể như sau:
Ngày 21/12/2022, Ngô Văn T ghi số lô, số đề tại “01 tờ giấy kẻ ngang hình chữ nhật có chữ “MINH CHÂU”, cả hai mặt đều có các chữ, số, ký tự bằng mực màu đen”, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang sau khi giám định đánh TLCGĐ: A3 với tổng số tiền là 12.416.500 đồng, cụ thể:
- Đánh “Đặc biệt” là 2.374.000 đồng. Kết quả sổ xố ngày 21/12/2022 xác định trúng số 62 là 10.000 đồng x 80.000 đồng = 800.000 đồng. Như vậy, số tiền đánh bạc bằng hình thức Đặc biệt là 2.374.000 đồng + 800.000 = 3.184.000 đồng.
- Đánh “Nhất to” là: 465.000 đồng.
- Hình thức chơi “Ba càng” là: 110.000 đồng.
- Đánh “Lô điểm” là: 323 điểm x 22.500 đồng/1 điểm = 7.267.500 đồng. Kết quả sổ xố ngày 21/12/2022 xác định có 04 số (cặp số 55, 18 - 03 điểm; cặp số 37 - 05 điểm x 02 lần (trúng 2 nháy). Tổng số trúng là 16 điểm x 80.000 đồng = 1.280.000 đồng. Vậy số tiền đánh bạc bằng hình thức “Lô điểm” là: 7.267.500 đồng + 1.280.000 đồng = 8.547.500 đồng.
- Đánh “Lô xiên 3” là: 110.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền T ghi số lô, số đề ở các hình thức là 3.184.000 đồng + 465.000 đồng + 110.000 đồng + 8.547.500 đồng + 110.000 đồng = 12.416.500 đồng.
Ngày 22/12/2022, Ngô Văn T đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề tại “01 tờ lịch không rõ hình, bị xé một góc, một mặt có số “21” màu tím, một mặt có các chữ, số, ký tự bằng mực màu đen”, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang sau khi giám định đánh TLCGĐ: A2. Do hành vi đánh bạc ngày 22/12/2022 của Ngô Văn T bị phát hiện trước khi có kết quả mở thưởng nên theo quy định của Nghị quyết số: 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì số tiền đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của T trong ngày 22/12/2022 là 1.600.000 đồng, cụ thể:
- Đánh “Đặc biệt” là: 220.000 đồng.
- Đánh “Nhất to” là: 30.000 đồng.
- Đánh “Lô điểm” là: 60 điểm x 22.500 đồng/1 điểm = 1.350.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã xác định các vật chứng thu giữ có 1.440.000 đồng là tiền Ngô Văn T bán số lô, số đề có được; còn những vật chứng khác không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can.
5. Cách thức chơi số lô, số đề gồm những dạng như sau:
- Dạng đánh số đề: Người chơi đề chọn số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 để đánh với một số tiền nhất định, đối chiếu với hai số cuối cùng của giải đặc biệt của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì người chơi đề trúng thưởng, được chủ đề trả thưởng số tiền gấp 80 lần số tiền đánh đề, nếu không trúng thì bị mất số tiền đã đánh.
- Dạng đánh nhất to: Tương tự như dạng đánh số đề, nhưng được so với giải nhất của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày.
- Dạng đánh ba càng: Người chơi đề chọn số tự nhiên có 3 chữ số từ 000 đến 999 để đánh với một số tiền nhất định, đối chiếu với ba số cuối cùng của giải đặc biệt hoặc giải nhất (nhất to) của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì người chơi đề trúng thưởng, được chủ đề trả thưởng số tiền gấp 100 lần số tiền đánh đề, nếu không trúng thì bị mất số tiền đã đánh.
- Dạng đánh lô xiên hai: Người chơi đề chọn hai số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 ghép thành một cặp để đánh với một số tiền nhất định, đối chiếu với hai số cuối cùng của 27 giải của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì người chơi đề trúng thưởng, được chủ đề trả thưởng số tiền gấp 10 lần số tiền đánh đề, nếu không trúng thì bị mất số tiền đã đánh.
- Dạng đánh lô xiên ba: Người chơi đề chọn ba cặp số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 ghép thành một cặp để đánh với một số tiền nhất định, đối chiếu với hai số cuối cùng của 27 giải của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì người chơi đề trúng thưởng, được chủ đề trả thưởng số tiền gấp 45 lần số tiền đánh đề, nếu không trúng thì bị mất số tiền đã đánh.
- Dạng đánh lô điểm: Người chơi đề chọn số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 để đánh với một số điểm nhất định, quy ước mỗi điểm 22.500 đồng, đối chiếu với hai số cuối cùng của 27 giải của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì người chơi đề trúng thưởng, được chủ đề trả thưởng 80.000 đồng/1 điểm, nếu không trúng thì bị mất số tiền đã đánh.
- Dạng đánh đầu số hoặc đuôi số: Người chơi đề chọn một số ở hàng chục hoặc hàng đơn vị để đánh, so với giải đặc biệt của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, nếu trúng thì được chủ đề trả thưởng số tiền gấp 07 lần số tiền đánh đề, nếu không trúng thì mất số tiền đã đánh.
6. Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS ngày 12 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321của Bộ luật Hình sự.
7. Tại phiên tòa:
Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá về tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 08 tháng đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng. Phạt tiền bị cáo T 10.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu số tiền 1.440.000 đồng, truy thu số tiền bị cáo ghi số lô số đề ngày 21/12/2022 là 10.336.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
Trả bị cáo Ngô Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, ốp lưng màu nâu, có số Imei1: 868289059610931; Imei2: 868289059610923, lắp sim số 0327603477 và sim số 0397231477 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả cháu Ngô Tuấn H4, do ông Ngô Văn A là đại diện theo pháp luật 01 điện thoại Iphone có Imei: 355336082611814, không có sim, vỏ màu hồng đã qua sử dụng.
Trả lại ông Nguyễn Văn L số tiền 60.000 đồng.
Tịch thu 01 chiếc bút viết trên vỏ bút có chữ “Cyber 21”, mực màu đen để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội; bị cáo đề nghị được hưởng án treo và hứa không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.
Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vũ Văn T2, Phạm Văn C, Nguyễn Văn T3, Lương Văn K, Dương Xuân H, Nguyễn Việt H2, Giáp Văn H3, Phạm Tiến D, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn L, cháu Ngô Tuấn H4 do ông Ngô Văn A đại diện theo pháp luật; những người làm chứng Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T5 những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn T thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Ngô Văn T ngày 21/12/2022 ghi số lô, số đề trực tiếp cho người tham gia đánh bạc là 10.336.500 đồng, khách trúng thưởng là 2.080.000 đồng, tổng số tiền bị cáo T đánh bạc trong ngày là 12.416.500 đồng. Ngày 22/12/2022 bị cáo T ghi số lô, số đề cho khách được 1.600.000 đồng, khi bị bắt chưa có kết quả mở thưởng. Bị cáo T xác định bị cáo ghi số lô, số đề rồi chuyển cho Ngô Văn A ở thôn C, xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T không đưa ra được căn cứ ghi số lô, số đề rồi chuyển cho ông A, do vậy cần xác định bị cáo trực tiếp ghi số lô, số đề cho những người chơi bạc và trực tiếp đánh bạc với người ghi đề.
Hành vi ghi lô đề, ôm đề của bị cáo Ngô Văn T là trái phép, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi ghi lô đề của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, căn cứ số tiền bị cáo ghi lô đề, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo thấy: Bị cáo Ngô Văn T trực tiếp ghi lô đề và ôm đề, bị cáo trực tiếp tham gia đánh bạc cùng những người tham gia ghi số lô, số đề 02 ngày, ngày 21/12/2022 bị cáo đánh với số tiền là 12.416.500 đồng (Mười hai triệu, bốn trăm mười sáu nghìn, năm trăm đồng), ngày 22/12/2022 số tiền là 1.600.000 đồng. Do vậy bị cáo bị truy tố, xét xử về hành vi đánh bạc ngày 21/12/2022, hành vi đánh bạc ngày 22/12/2022 bị xử phạt hành chính là đúng theo quy định pháp luật.
Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội, mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục, răn đe đối với bị cáo. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ giáo dục, dăn đe và thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo phạm tội với động cơ mục đích hưởng lợi bất chính, do vậy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền bị cáo để sung vào công quỹ Nhà nước, áp dụng mức phạt đối với bị cáo ở mức khởi điểm theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Các đối tượng Vũ Văn T2, Phạm Văn C, Nguyễn Văn T3, Lương Văn K, Dương Xuân H1, Nguyễn Việt H2, Giáp Văn H3, Phạm Tiến D, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với bị cáo T, nhưng những người này đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng nên hành vi đó không cấu thành tội phạm; Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với những người trên là đúng quy định của pháp luật.
Đối với ông Ngô Văn A là người bị cáo xác định sau khi ghi số lô, số đề cho khách bị cáo chuyển cho ông A. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh cho bị cáo và ông A đối chất tuy nhiên bị cáo không đưa ra được chứng cứ hoặc tài liệu nào chứng minh bị cáo giao cáp đề cho ông A, do vậy Cơ quan điều tra không ra quyết định xử lý đối với ông A là đúng quy định pháp luật.
Về vật chứng: Khi bắt giữ và khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo ngô Văn T số tiền 1.500.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, ốp lưng màu nâu, có số Imei1: 868289059610931; Imei2: 868289059610923, lắp sim số 0327603477 và sim số 0397231477, 01 chiếc bút viết trên vỏ bút có chữ “Cyber 21”, mực màu đen.
Thu giữ của cháu Ngô Tuấn H4 01 điện thoại Iphone có Imei: 355336082611814, không có sim, vỏ màu hồng đã qua sử dụng.
Xét thấy: Số tiền bị cáo T ghi đề ngày 21/12/2022 được số tiền là 10.336.500 đồng, khách ghi trúng đề ngày 21/12/2022 là 2.080.000 đồng, tuy nhiên số tiền khách trúng đề bị cáo chưa trả. Đối với số tiền 1.600.000 đồng bị cáo ghi đề ngày 22/12/2022, trong đó số tiền 1.440.000 đồng đã bị thu giữ cùng với số tiền 60.000 đồng của Nguyễn Văn L là 1.500.000 đồng, số tiền còn lại là 160.000 đồng bị cáo đang quản lý. Do vậy cần thu hồi số tiền bị cáo T thu lời bất chính ngày 21/12/2022 là 10.336.500 đồng và ngày 22/12/2022 là 160.000 đồng, tổng cộng bị cáo T bị thu hồi số tiền là 10.496.500 đồng và số tiền 1.440.000 đồng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tân Yên để sung công quỹ Nhà nước.
Tịch thu 01 chiếc bút viết trên vỏ bút có chữ “Cyber 21”, mực màu đen là công cụ phạm tội, ghi đề nhưng không có giá trị để tiêu hủy; những giấy tờ, tài liệu khác được lưu giữ trong hồ sơ vụ án nên không đặt ra xem xét xử lý.
Xác định 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, ốp lưng màu nâu, có số Imei1: 868289059610931; Imei2: 868289059610923, lắp sim số 0327603477 và sim số 0397231477 không liên quan đến vụ án cần trả lại bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. 01 điện thoại Iphone có Imei: 355336082611814, không có sim, vỏ màu hồng đã qua sử dụng của cháu Ngô Tuấn H4 không liên quan đến vụ án cần trả cho cháu H4 do ông Ngô Văn A là đại diện theo pháp luật.
Đối với số tiền thừa của ông Nguyễn Văn L 60.000 đồng không liên quan đến hành vi đánh bạc cần trả lại ông L số tiền trên.
Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 135, Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 18/01/2023.
Phạt tiền bị cáo Ngô Văn T 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Xử lý vật chứng:
Thu hồi, buộc bị cáo Ngô Văn T phải giao nộp số tiền 10.496.500 đồng (Mười triệu, bốn trăm chín sáu nghìn, năm trăm đồng) và số tiền 1.440.000 đồng (Một triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án nhân dân huyện Tân Yên để sung công quỹ Nhà nước.
Trả lại cháu Ngô Tuấn H4 do ông Ngô Văn A là đại diện 01 điện thoại Iphone có Imei: 355336082611814, không có sim, vỏ màu hồng đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo Ngô Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, ốp lưng màu nâu, có số Imei1: 868289059610931; Imei2: 868289059610923, lắp sim số 0327603477 và sim số 0397231477 nhưng tạm giữ để thi hành án.
Trả lại ông Nguyễn Văn L số tiền 60.000 đồng.
Tịch thu của bị cáo Ngô Văn T 01 chiếc bút viết trên vỏ bút có chữ “Cyber 21”, mực màu đen để tiêu hủy
Những vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
3. Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh BG; - VKSND huyện Tân Yên; - TAND tỉnh BG; - CQCSĐT - Công an huyện Tân Yên; - Sở Tư pháp tỉnh BG; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - UBND xã T; - Bị cáo; người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Huy Biên |