- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Chu Đức Quân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Chu Đức Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 10 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mầu Văn Mùi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Hằng và ông Lâm Văn Bảy
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương, Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Chu Đức Q, sinh ngày 26/12/1977; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; văn hoá: 6/12; đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Đức H và bà Tạ Thị Đ; có vợ là Đinh Thị Y và có 02 con; tiền án: 01: Tại Bản án số: 77/2013/HSST ngày 12/11/2013, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (ngày 12/9/2016, chấp hành xong hình phạt tù, hình phạt bổ sung, án phí chưa thi hành); tiền sự: Không; nhân thân: 1. Tại Bản án số: 04/HSST ngày 28/4/1999, Tòa án Q sự Q khu xử phạt 15 tháng tù về tội: “Đào ngũ” và 18 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc Q phải chấp hành hình phạt chung là 33 tháng tù (chấp hành xong ngày 11/12/2001); 2. Tại Bản án số: 19/2010/HSST ngày 29/3/2010, Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” (ngày 30/8/2011, chấp hành xong hình phạt tù; ngày 27/5/2010, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí); ngày 12/5/2017, Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 500.000đ về hành vi “Mua trái phép chất ma túy để sử dụng”; ngày 21/3/2018, Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 500.000đ về hành vi “Mua trái phép chất ma túy để sử dụng”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2022 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Thanh Z, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1991; nơi cư trú: xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/9/2022, Chu Đức Q đi đến nhà hàng Thanh Thư ở thôn Cam Lâm, xã Minh Quang, huyện T để ăn cơm tối cùng đội thợ làm cơ khí. Khi đi, Q mang theo 02 gói ma túy được cất trong 01 túi nilon màu trắng, mục đích để sử dụng cho bản thân và có ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Q ra ngoài đi vệ sinh thì nhìn thấy Vũ Thị Thanh Z và anh Nguyễn Đình T đang đứng ở đường tỉnh lộ 302 gần Nhà hàng TT. Q đi đến hỏi Z đi đâu đấy, Z trả lời đi tìm mua ma túy để sử dụng. Do có sẵn ma túy trong người nên Q nảy sinh ý định bán ma túy cho Z để kiếm lời. Q lấy 02 gói ma túy từ trong túi quần đang mặc ra, mục đích bán cho Z nhưng Q và Z chưa kịp thỏa thuận giá và Z chưa kịp cầm ma túy thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng, gồm: Thu trong lòng bàn tay trái của Q 02 túi ni lon màu trắng, trong đó có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 29 viên nén hình trụ tròn màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng (Q khai nhận là 02 gói ma túy) được niêm phong ký hiệu A1; thu tại bàn tay phải của Q 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, niêm phong ký hiệu A2; 01 Căn cước công dân mang tên Chu Đức Q; tạm giữ của Z số tiền 500.000đ, được niêm phong ký hiệu A3.
Tại kết luận giám định số: 2725/KL-KTHS ngày 11/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“1.29 (hai mươi chín) viên nén hình trụ tròn màu đỏ có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,9907g, loại Methamphetamine.
2. Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5440g, loại Methamphetamine”.
Về nguồn gốc ma túy, Q khai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/9/2022, Q nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy nên một mình đi đến khu vực Cổng làng Tam Lộng để chờ mua ma túy của Vũ (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) mua 30 viên ma túy ngựa và 1.000.000đ ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Q mang về nhà, rồi lấy 01 viên ma túy ngựa và một ít ma túy đá ra để sử dụng. Số ma túy còn lại Q cất vào túi quần đang mặc, đến ngày 06/9/2022, Q và Z chưa kịp thỏa thuận giá và Z chưa kịp cầm ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKSTĐ ngày 22/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Chu Đức Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chu Đức Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Chu Đức Q từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 06/9/2022, đường tỉnh lộ 302 thuộc thôn Cam Lâm, xã Minh Quang, huyện T, bị cáo Chu Đức Q có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Vũ Thị Thanh Z nhưng chưa kịp thỏa thuận giá thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe nhưng không rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà để kiếm lời bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy. Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử. Tại bản án số: 77/2013/HSST ngày 12/11/2013, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với Vũ Thị Thanh Z là người mà bị cáo thỏa thuận mua bán ma túy nhưng chưa giao nhận ma túy và tiền thì bị bắt nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Z là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói là vật chứng của vụ án, không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 500.000đ thu giữ của Z là tài sản hợp pháp của Z nhưng mục đích Z cầm đi sử dụng vào việc mua trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và 01 Căn cước công dân mang tên Chu Đức Q là tài sản hợp pháp của bị cáo Q, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Chu Đức Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử: Phạt bị cáo Chu Đức Q 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/9/2022).
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại, gồm: 2,663gam mẫu viên nén, 0,4851 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tạm giữ của Vũ Thị Thanh Z.
- Trả lại bị cáo Chu Đức Q 01 Căn cước công dân mang tên Chu Đức Q và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2023)
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Chu Đức Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Trại TGCA tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - Bị cáo; Người liên quan; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Mầu Văn Mùi |