- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A Gi-Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vàng A G 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2023 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ).
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA –––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 09 -11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
* Tại điểm cầu trung tâm:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Công Ó
Bà Lê Thị Bống
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Tuyến - Kiểm sát viên.
* Tại điểm cầu thành phần:
- Thư ký Tòa án: Bà Lê Khánh Hòa
- Kiểm sát viên: Bà Đinh Thị Thùy Ngân
- Cảnh sát hỗ trợ tư pháp: Ông Đinh Văn Chỉnh, ông Lò Văn Hoàn
Ngày 09 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (điểm cầu trung tâm) và tại Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (điểm cầu thành phần) xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo: Vàng A G, sinh ngày 08 tháng 12 năm 1980 tại Sơn La; nơi cư trú: bản X, xã Y, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vàng A T (đã chết); con bà: Hạng Thị C; có vợ là: Thào Thị M, bị cáo có 05 con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: có sử dụng ma túy; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 7 năm 2023 đến nay, “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vàng A Chu, sinh năm
2006, nơi cư trú: bản Trò, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”. Người đại diện hợp pháp của Vàng A Chu: Bà Thào Thị Má, sinh năm 1980; nơi cư trú: bản Trò, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, là mẹ đẻ của Vàng A Chu; “có mặt”.
- Người phiên dịch: ông Lò Như Hoa, sinh năm 1954; chức vụ: Giáo viên tiếng Mông; địa chỉ: bản Giáo, xã Huy Tân, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 23/7/2023, Giao một mình đi bộ từ nhà ở Bản Trò, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La sang Bản Làng Sáng, xã Háng Đồng, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 09 giờ ngày 24/7/2023, Giao đến bản Làng Sáng, xã Háng Đồng, huyện Bắc Yên gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch). Qua trao đổi, Giao mua được của người này 01 gói nilon màu hồng bên trong có 02 gói heroin và 01 gói có 01 viên hồng phiến với giá 1.100.000 đồng, sau đó Giao đi về nhà. Từ khi mua được ma tuý, Giao sử dụng Heroine 04 lần, sau đó Giao chia số Heroine làm 02 gói và 01 gói viên hồng phiến được gói chung tất cả vào 01 gói nilon màu hồng. Khoảng 13 giờ ngày 25/7/2023, Giao lấy chiếc xe máy BKS: 26D1-183.75 của Vàng A Chu, sinh năm 2006, nơi cư trú Bản Trò, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (Chu là con đẻ của Giao, hiện tại Chu để xe máy ở nhà và đang đi làm thuê Hải Phòng) một mình điều khiển từ nhà xuống thị trấn Phù Yên để đi mua đồ dùng cho gia đình và mang theo gói ma túy. Khi đi đến gần cổng trường THPT Phù Yên do lên cơn nghiện nên Giao điều khiển xe đi lên khu vực nghĩa trang cạnh trường THCS Võ Thị Sáu thuộc tiểu khu 6, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên để sử dụng ma tuý. Khi đi đến gần cổng trường THCS Võ Thị Sáu thì bị tổ công tác Công an thị trấn Phù Yên phối hợp với Công an viên Tiểu khu 6, thị trấn Phù Yên và Công an xã Suối Tọ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định xác định: Vật chứng thu giữ của Vàng A G gồm 03 gói. Cụ thể: 02 gói nilon màu hồng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng, gói thứ nhất có khối lượng là 0,093 gam, gói thứ hai có khối lượng là 0,434 gam, tổng khối lượng cả hai gói là 0,527 gam; 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 01 viên nén màu hồng, có khối lượng là 0,102 gam. Cơ quan điều tra đã lấy 0,093 gam của gói thứ nhất (ký hiệu G1), 0,227 gam của gói thứ hai (ký hiệu G2) và 0,102 gam của gói thứ ba (ký hiệu G3) gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1835 ngày 28/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu G1, G2 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là G1= 0,093gam; G2=0,227gam; Mẫu ký hiệu G3=0,102 gam gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,102 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,527gam; loại Heroine và 0,102 gam, loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận của Cơ quan điều tra và của Phòng kỹ thuật hình sự nêu trên.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 60/CT – VKS ngày 18/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Vàng A G về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của bị cáo Vàng A G đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A G từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,207 gam Heroine vật chứng lưu kho; 04 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng khi bắt người phạm tội quả tang. Trả lại cho anh Vàng A Chu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 26D1-183.75, số khung RLHZA3100EY076330, số máy ZA31E0275644.
Trong phần đối đáp, bị cáo Vàng A G nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Vàng A Chu và người đại diện hợp pháp trình bày ý kiến xác nhận chiếc xe mô tô là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình. Vào ngày 25/7/2023, bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi xuống thị trấn mua thực phẩm cho gia đình, anh Chu không biết việc bị cáo Giao có cất giữ ma túy trong thời gian sử dụng chiếc xe. Anh Chu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho anh được nhận lại chiếc xe và không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác.
Kết thúc tranh luận, bị cáo nói sau cùng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A G khai nhận hành vi cất giữ ma túy mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo kết quả giám định thì khối lượng ma túy bị cáo Vàng A G đã cất giữ trái phép là 0,527 gam Heroine và 0,102 gam Methamphetamine. Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng của các chất ma túy Heroine và Methamphetamine là 0,527 gam + 0,102 gam= 0,629 gam.
Theo tinh thần tiểu mục 3.1, mục 3, phần II của Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì “Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này”. Theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
Như vậy, hành vi cất giữ trái phép 0,629 gam ma túy (0,527 gam Heroine và 0,102 gam Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng của Vàng A G đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự với khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.
Về nhân thân, Bị cáo là người dân tộc thiểu số, là người đã thành niên; trình độ học vấn 0/12, làm nghề lao động tự do, bản thân có sử dụng ma túy.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số; do hoàn cảnh gia đình khó khăn bị cáo không được đi học, bản thân làm nghề lao động tự do, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,…” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn (bút lục số 119- 125). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 0,207 gam Heroine vật chứng lưu kho; 04 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng khi bắt người phạm tội quả tang, xác định là vật chứng, vật không có giá trị. Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 26D1-183.75, số khung RLHZA3100EY076330, số máy ZA31E0275644. Xác định, bị cáo tự ý sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi xuống thị trấn mua thực phẩm cho gia đình, anh Chu không biết việc khi sử dụng chiếc xe, bị cáo Giao có cất giấu ma túy trong người. Anh Chu không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng tài sản vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử cần trả lại cho anh Chu chiếc xe mô tô.
Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo Giao không biết họ tên, địa chỉ của người đàn ông đó ở đâu. Việc mua bán ma túy không có ai khác biết sự việc. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý.
Về biện pháp ngăn chặn, do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí, Bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo có đề nghị được miễn án phí; căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38của Bộ Luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vàng A G 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2023 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 0,207 gam Heroine vật chứng lưu kho; 04 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng khi bắt người phạm tội quả tang (đựng trong phong bì đã niêm phong). Trả lại cho anh Vàng A Chu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu đỏ, biển kiểm soát 26D1-183.75, số khung RLHZA3100EY076330, số máy ZA31E0275644, kèm 01 chìa khóa.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23; các Điều 14, 15 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Vàng A G được miễn nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/11/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |