- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn K và Lò Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05 /2023/HS-ST Ngày 08 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn và ông Thùng Văn Quân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 10/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 25/10/2023 với các bị cáo:
1.Vì Văn K; Sinh năm: 2002 tại huyện MC, tỉnh Điện Biên ; Nơi cư trú: Bản NH, xã MT, huyện MC, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số định danh cá nhân: 011202004194; Con ông: Vì Văn Triệu, sinh năm 1973 và bà: Lò Thị Diện, sinh năm 1974;; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 21/6/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện NP đến nay. Bị cáo có mặt.
Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng án treo về tội Trộm cắp tài sản, đến nay đã được xóa án tích.
2. Lò Văn D Sinh năm: 1987 tại huyện MC, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Huổi Sáy, xã MT, huyện MC, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số định danh cá nhân: 011087003074; Con ông: Lò Văn Phón, sinh năm 1962 và bà: Lò Thị Phiêng, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là Lằm Thị Nớm, sinh năm 1989 và có 01 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện NP đến nay. Bị cáo có mặt.
Nhân thân: Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng, tại trại Thanh Hà , tỉnh Vĩnh Phúc. Đến ngày 01/9/2022 chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về địa phương sinh sống. Hiện chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn K: ng Lường Văn Bình – Trợ giúp viên
pháp lý c a Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên Có mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 16 giờ ngày 21/6/2023 tổ công tác Đồn Biên phòng Si Pha Phìn phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an huyện NP làm nhiệm vụ tại khu vực bản Mo Công, xã Phìn Hồ, huyện NP đã phát hiện Vì Văn K và Lò Văn D đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã yêu cầu Vì Văn K và Lò Văn D dừng lại kiểm tra hành chính. Khi tổ công tác yêu cầu 2 người có đồ vật tài liệu gì liên quan đến vi phạm thì bỏ ra để kiểm tra. Vì Văn K đã lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói ni lông xuống đất gần vị trí K đang đứng. Tổ công tác đã yêu cầu Vì Văn K nhặt gói đó lên và giao nộp cho tổ công tác, qua kiểm tra là 01 gói ni lông màu trắng miệng túi buộc xoắn lại, mở bên trong có chứa chất bột màu trắng đục nghi Heroine. Vì Văn K khai nhận gói chất bột màu trắng trên là c a K và Lò Văn D đi mua ở khu vực gần Mốc 68 biên giới Việt Nam – Lào thuộc xã Si Pa Phìn, huyện NP, tỉnh Điện Biên về nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng vụ án.
Tại Cơ quan điều tra Vì Văn K và Lò Văn D đã khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 ngày 15/6/2023 Vì Văn K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27V1-068.66 mang theo số tiền 100.000 đồng từ nhà ở bản NH, xã MT, huyện MC đến nhà Lò Văn D trú tại bản Huổi Sáy, xã MT, huyện MC, tỉnh Điện Biên với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi đến nhà D do không có ma túy để sử dụng nên K ng lại qua đêm tại nhà D. Cả hai bàn bạc cùng đi tìm mua ma túy tại khu vực bản Đề Tinh 1, xã Phìn Hồ, huyện NP để sử dụng. Đến sáng ngày 16/6/2023 Lò Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27V1-068.66 c a K chở K từ bản Huổi Sáy, xã MT đến xã Phìn Hồ nhưng không tìm mua được ma túy, cả hai đã dùng số tiền 100.000 đồng c a K mua đồ ăn, rồi cả hai đi đến km45 quốc lộ 4H thuộc xã Phìn Hồ, huyện NP. Tại đây K đã bán chiếc xe mô tô c a mình cho một người đàn ông không rõ tên tuôi, địa chỉ được 3.000.000 đồng. Có tiền K và D mua thức ăn và ng nhờ nhà người Mông ở bản Pháng Ch , xã Phìn Hồ, huyện NP đến ngày 19/6/2023 Vì Văn K và Lò Văn D đi bộ lên khu vực Mốc 68 biên giới Việt Nam- Lào tìm mua ma túy. Khi đến gần Mốc 68 biên giới Việt Nam- Lào D bảo K đưa cho D 500.000 đồng. Sau đó K vào một lán nương nghỉ nhờ, còn D đi tìm mua ma túy. Dơ gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ, qua nói chuyện được biết người đàn ông này đang đi sang Lào mua ma túy, D đưa cho người đàn ông 500.000 đồng để nhờ mua ma túy. Khoảng 17 giờ cùng ngày 19/6/2023 người đàn ông đó quay lại đưa cho D 01 gói Heroine được gói bằng ni lông màu trắng, D cầm gói ma túy vừa mua được về chỗ lán nương K ở nhờ đưa cho K. Do trời mưa nên K và D ở nhờ tại lán nương và cùng nhau lấy số Heroine ra sử dụng nhiều lần bằng hình thức hít Việc K và D sử dụng Heroine ch lán nương không biết . Khoảng 08 gờ ngày 21/6/2023 K đã cất số Heroine còn lại vào túi quần bên phải đang mặc rồi cùng D đi bộ về. Hồi 16 giờ 00 phút cùng ngày khi K và D đi bộ về đến khu vực bản Mo Công, xã Phìn Hồ, huyện NP thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Si Pha Phìn phối hợp với phòng phòng chống ma túy – tội phạm Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an huyện NP đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng vụ án.
Ngày 23/6/2023 Công an huyện NP đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy mẫu gửi giám định đối với vật chứng thu giữ c a Vì Văn K và Lò Văn D nghi Heroine có khối lượng là 1,08 gam và trích 0,2 gam gửi giám định, còn lại 0,88 gam.
Bản kết luận giám định số: 1059/KL-KTHS, ngày 30/6/2023 c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ c a Vì Văn K và Lò Văn D gửi đến giám định là chất ma túy. Loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 66/CT-VKSNP ngày 09/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Vì Văn K và Lò Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 c a Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình đúng như nội dung bản cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan sai.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân c a các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vì Văn K mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; Xử phạt bị cáo Lò Văn D mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
Về vật chứng vụ án: Gồm 0,88 gam Heroine sau khi trừ mẫu gửi giám định cần tuyên tịch thu tiêu h y theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
ng Lường Văn Bình là người bào chữa cho bị cáo Vì Văn K nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Vì Văn K là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo Vì Văn K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, để áp dụng mức hình phạt với mức thấp nhất theo đề nghị c a Viện kiểm sát. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo K.
Tại phiên tòa các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội c a Viện Kiểm sát nhân dân huyện NP, Vì Văn K không bổ sung gì với bản luận cứ bào chữa c a người bào chữa và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai c a các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong và lấy mẫu giám định ngày 21/6/2023; Kết luận giám định số: 1059/KL-KTHS, ngày 30/6/2023 c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội c a các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý c a Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Các bị cáo K và D là người có đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi c a bị cáo K và D đã đi ngược lại với đường lối ch trương c a đảng, chính sách pháp luật c a nhà nước về cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Vậy hành vi phạm tội c a các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để giữ vững kỷ cương c a pháp luật và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Xét vai trò c a các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D trong vụ án thấy: Bị cáo K là người khởi xướng, bị cáo D là người thực hành tích cực. Trong vụ án tuy có đồng phạm nhưng không có sự câu kết, phân công phân nhiệm chặt chẽ. Các bị cáo đều là người nghiện ma túy thực hiện hành vi một cách tự phát.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Tại phiên tòa và quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân: Các bị cáo K và D đều có nhân thân xấu. Năm 2019 Vì Văn K bị Tòa án nhân dân Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản tại bản án số: 06/2019/HSST ngày 05/6/2019. Đến tháng 6/2020 chấp hành xong thời gian thử thách c a án treo, đã được xóa án tích. Bị cáo Lò Văn D có 01 tiền sự, năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng, chấp hành tại trại Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến ngày 01/9/2022 chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về địa phương sinh sống. Ngày 21/6/2023 D có hành vi phạm tội trong vụ án này là chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Vì vậy, HĐXX xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm minh đối với các bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo sửa chữa lỗi lầm c a mình, nhằm sau này trở thành công dân có ích cho xã hội. Ngoài hình phạt chính, qua xác minh thì các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: Gồm 0,88 gam Heroine sau khi trừ mẫu gửi giám định , cần tuyên tịch thu tiêu h y theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã mua hộ ma túy cho Vì Văn K và Lò Văn D, do không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan cảnh sát điều tra không có đ căn cứ để xác minh làm rõ nên HĐXX không xem xét.
Đối với đối 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27V1-068.66, Vì Văn K đã bán để lấy tiền tiêu sài và mua ma túy, qua điều tra xác minh đã làm rõ là tài sản c a bị cáo nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Đối với đối hai vợi chồng dân tộc Thái, ch lán nương tại khu vực Mốc 68 biên giới Việt Nam –Lào đã cho các bị cáo nghỉ nhờ, qua xác minh không đ cơ sở có liên quan đến hành vi phạm tội c a các bị cáo nên không đặt vấn đề xử lý.
Xét đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP các bị cáo Vì Văn K, Lò Văn D và luận cứ bào chữa c a người bào chữa đối với bị cáo Vì Văn K là phù hợp với quy định c a pháp luật nên HĐXX cần xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội c a các bị cáo.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 c a Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Xét thấy gia đình các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định c a Chính ph nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 c a Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa, các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vì Văn K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, kể từ ngày bắt tạm giữ: 21/6/2023.
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, kể từ ngày bắt tạm giữ: 21/6/2023.
[2] Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu h y 0,88 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định , theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 c a BLTT hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Các bị cáo Vì Văn K và Lò Văn D được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 c a Bộ luật tố tụng hình sự, báo các bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo ; - Người bào chữa; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - CQTHAHS huyện NP; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện NP; - VKSND huyện NP; - Chi cục THADS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |