- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn Tấn phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương Văn T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 30/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Bình
2. Bà Tẩn Thị Thanh
Thư ký phiên toà: Ông Giàng Mạnh Vàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 06 năm 2023 tại Nhà văn hóa trung tâm xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vương Văn T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 8 năm 1965 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Ngọc H (đã chết) và bà Lý Thị S sinh năm 1939; Vợ là Trương Thị C sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố M, thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1994.
Tiền án: 01, tại Bản án số 07/2017/HSST ngày 20/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương xét xử Vương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt 05 năm tù, ngày 08/10/2021 Vương Văn T chấp hành xong hình phạt tù của bản án, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo Tấn có nhân thân xấu, là người thường xuyên sử dụng chất ma túy; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 85/1996/HSST ngày 16/10/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt bị cáo Vương Văn T 04 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”; Tại bản án 69/2005/HSST ngày 18/10/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt bị cáo Vương Văn T 08 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Khương. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Trọng X - Sinh năm 1989
Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 07 giờ 50 phút ngày 02/06/2023, tổ công tác đội Điều tra tổng hợp Công an huyện Mường Khương đang làm nhiệm vụ tại tuyến đường Quốc lộ 4D thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai đã phát hiện Vương Văn T sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố M, thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai điều khiển chiếc xe máy Honda Blade biển kiểm soát 24B1-766.37 đi theo hướng Mường Khương - Lào Cai có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu Vương Văn T dừng xe để kiểm tra thì Tấn khai nhận trên người có mang theo ma tuý và đang đi tìm vị trí vắng người để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Vương Văn T về trụ sở Công an thị trấn M để kiểm tra, có sự chứng kiến của đại diện Cnh quyền địa phương và người chứng kiến, Vương Văn T lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra 02 gói nhỏ được cuốn bằng giấy ni lon, Tấn khai bên trong có chứa chất ma tuý Heroine. Tiến hành kiểm tra 02 gói này thì thấy 01 gói được cuốn bằng nilon, bên trong được cuốn bằng giấy, trong cùng có chất bột khô, vón cục, màu trắng; 01 gói được cuốn bằng hai lớp nilon, bên trong có 02 gói nhỏ đều được cuốn bằng giấy, bên trong đều có chất bột khô, vón cục, màu trắng. Vương Văn T khai số ma túy trên là do Tấn mua tại xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 300.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vương Văn T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ toàn bộ số ma túy có liên quan. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Vương Văn T 01 xe mô tô Honda Blade, biển kiểm soát 24B1-766.37; 01 chiếc điện thoại di động VIVO màu xanh tím đã qua sử dụng và số tiền mặt 500.000 đồng.
Kết luận giám định về ma túy số 185/GĐMT ngày 04/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:
M1: 0,05 (Không phẩy không năm) gam chất bột khô màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Heroin); M2: 0,03 (Không phẩy không ba) gam chất bột khô màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Heroin). Cơ quan giám định đã sử dụng toàn bộ số ma túy thu giữ của Vương Văn T là 0,08 gam để giám định, không hoàn lại cơ quan trưng cầu.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 20/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương truy tố Vương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vương Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù giam, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy đối với các mảnh nilon, các mảnh giấy bọc ma túy được niêm phong cho cùng vào một bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định. Sau khi giám định đã được niêm phong cho cùng vào 01 bì thư niêm phong in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
+ Tạm giữ số tiền 500.000đ của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.
+ Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh tím, số IMEI 1: 860910044694494, IMEI 2: 860910044694486 đã qua sử dụng.
+ Đối với chiếc xe mô tô Honda Blade biển kiểm soát 24B1 - 766.37, quá trình điều tra xác định Vương Văn T mượn chiếc xe trên của bà Trương Thị C để làm phương tiện đi lại. Khi Tấn sử dụng xe để đi mua ma túy thì bà C không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Trương Thị C là phù hợp.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Vương Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người chứng kiến là anh Nguyễn Trọng X vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên các lời khai có trong hồ sơ của anh Xuân đều phù hợp với diễn biến, sự việc mà anh chứng kiến khi tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ vật chứng của Vương Văn T như nội dung bản cáo trạng và lời khai của bị cáo Tấn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Vương Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người chứng kiến tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 02/6/2023, bị cáo Vương Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,08 gam ma tuý Heroine, bị phát hiện tại khu vực đường Quốc lộ 4D thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai với mục đích để sử dụng cho bản thân. Mặc dù khối lượng ma túy Heroine thu giữ của bị cáo Vương Văn T dưới 0,1 gam nhưng do trước đó bị cáo Vương Văn T đã bị Tòa án nhân dân huyện Mường Khương xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 07/2017/HSST ngày 20/4/2017, ngày 08/10/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án, tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1.“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành Cnh về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248,250,251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
Hành vi của bị cáo Vương Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến Cnh sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Mường Khương. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử về tội cướp tài sản của công dân, mua bán trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích. Bị cáo là người thường xuyên sử dụng chất ma tuý, tại thời điểm bị bắt đưa đi xét nghiệm mặc dù kết quả xét nghiệm cho thấy bị cáo âm tính với Morphine nhưng bị cáo đã khai báo sáng ngày 02/6/2023 bị cáo đã sử dụng 02 viên thuốc tránh thai, do vậy khi test không cho kết quả dương tính với chất ma túy;
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Các mảnh nilon, các mảnh giấy cho cùng bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong 01 bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Xét thấy các mảnh nilon, các mảnh giấy này dùng để gói ma túy, đây là vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh tím, số IMEI 1: 860910044694494, IMEI 2: 860910044694486 đã qua sử dụng của bị cáo Vương Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 500.000đ thu giữ của bị cáo, xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo do lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên cần tạm giữ 200.000đ trong số tiền trên để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí hình sự. Trả lại cho bị cáo 300.000đ.
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Blade biển kiểm soát 24B1 - 766.37 thu giữ của Vương Văn T, quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của chị Trương Thị C là vợ bị cáo, khi cho bị cáo mượn xe chị C không biết bị cáo mượn để đi mua ma túy. Do vậy ngày 15/6/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại cho chị C chiếc xe mô tô trên là phù hợp.
Đối với đối tượng mà bị cáo khai là người đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên toà không làm rõ được lai lịch, địa chỉ của đối tượng này nên không có cơ sở để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vương Văn T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
Xử phạt bị cáo Vương Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/6/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: các mảnh nilon, các mảnh giấy cho cùng bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong 01 bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Vương Văn T tại Trụ sở Công an thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai ngày 02/6/2023”.
- Trả lại cho bị cáo Vương Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh tím, số IMEI 1: 860910044694494, IMEI 2: 860910044694486 đã qua sử dụng.
(Xác nhận vật chứng trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương đã chuyển giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương theo nội dung biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/6/2023).
- Tạm giữ số tiền 200.000đ trong số tiền 500.000đ đã thu giữ của bị cáo Vương Văn T để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí hình sự. Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000đ.
(Xác nhận số tiền trên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương đã chuyển giao sang Kho bạc Nhà nước huyện Mường Khương theo nội dung biên bản giao, nhận tài sản ngày 21/6/2023).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vương Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Mường Khương; - Công an huyện Mường Khương (2); - CQTHAHS Công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Thi hành án (3); - Lưu HS, THS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền Lương |