vanban.org

Bản án 05/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Đánh bạc.

Hình phạt. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (ba) tháng 16 (mười sáu) ngày tù; xác định bị cáo đã chấp hành xong thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2022 bị tạm giữ, tạm giam đến ngày xét xử 17/01/2023 (106 ngày). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS-ST
Ngày: 17-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Xuân.

2. Ông Lê Xuân Nghiêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại phòng xét xử số 01, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 21/12/1961, tại huyện D, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Đường X, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; trình độ học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết năm 1974) và bà Vũ Thị X, sinh năm 1924; vợ Lê Thị Thu N, sinh năm 1977; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2022 đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Hà Văn V, vắng mặt không có lý do.

2. Anh Ân Văn S, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ làm hợp đồng đại lý bán vé xổ số kiến thiết cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số kiến thiết Lạng Sơn. Lợi dụng việc bán vé xổ số, Nguyễn Văn Đ còn tự ý bán số lô, đề tại quán bán nước ven đường thuộc khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn để thu lợi như sau:

- Khoảng 16 giờ ngày 04/10/2022, Nguyễn Văn Đ bán cho Ân Văn S các số lô 85, 12, mỗi số 50 điểm (mỗi điểm 23.000 đồng) và các số đề 85, 12, mỗi số 100.000 đồng; tổng cộng 2.500.000 đồng, S đã trả đủ tiền cho Đ.

- Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 04/10/2022, Nguyễn Văn Đ bán cho Hà Văn V 100 điểm số lô 73 (mỗi điểm 23.000 đồng); 200.000 đồng lô xiên 2 số 73, 52 và 100.000 đồng số đề 73; tổng cộng 2.600.000 đồng, V đã trả tiền cho Đ.

Tổng số tiền Nguyễn Văn Đ đánh bạc dưới hình thức đánh lô, đề với Ân Văn S và Hà Văn V trong ngày 04/10/2022 là 5.100.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Đ, thu giữ: Số tiền 5.100.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7; 08 tờ giấy có các chữ và số ghi bằng mực màu đen.

Khám xét khẩn cấp quán bán hàng nước và chỗ ở của Nguyễn Văn Đ, thu giữ: Số tiền 3.869.000 đồng; 07 tờ giấy, trong đó 03 tờ ghi bằng mực màu xanh, 04 tờ ghi bằng mực màu đen; 02 chiếc bút bi mực màu đen, mực màu xanh; 01 tờ giấy A4 có các số ghi bằng mực màu xanh ở cả 02 mặt giấy.

Trong quá trình điều tra, Hà Văn V giao nộp 01 tờ “cáp”, ở giữa ghi “ngày 04/10/2022 73=100, X73 + 52 = 200g, đề 73=100g”, có chữ ký; mặt sau có chữ ký của Hà Văn V. Ân Văn S giao nộp 01 tờ cáp, ở giữa ghi “ngày 04/10/2022 85=50, 12=50, đề 85=100g 12=100g”, có chữ ký; mặt sau có chữ ký của Ân Văn S.

Tại bản Kết luận giám định số 424/KL-KTHS ngày 17/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền gửi đi giám định là tiền thật.

Tại bản Kết luận giám định số 428/KL-KTHS ngày 27/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận đối với 17 tờ “cáp” thu của Nguyễn Văn Đ, Ân Văn S và Hà Văn V (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14, A15, A17, A18) và 01 tờ giấy A4 (ký hiệu A16): Chữ viết, chữ số trên các tờ “cáp” được ký hiệu so với chữ viết, chữ số của Nguyễn Văn Đ trên các tài liệu so sánh do cùng một người viết ra. Các chữ ký trên các tờ “cáp” được ký hiệu so với chữ ký của Nguyễn Văn Đ trên tài liệu so sánh do cùng một người viết ra. Chữ số trên tờ giấy A4 so với chữ số của Nguyễn Văn Đ không phải do cùng một người viết ra.

Hình thức đánh bạc dưới dạng số lô, đề được mô tả như sau: Nguyễn Văn Đ sẽ bán các số lô, đề cho người tham gia, ghi ra 02 tờ “cáp”, một tờ Đ ký đưa cho người đánh bạc, một tờ giữ lại để đối chiếu, xác định thắng thua căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong cùng ngày vào 18 giờ 15 phút.

Đánh “đề” là người đánh bạc bỏ tiền ra mua số tự nhiên bất kỳ, nếu số đã mua trùng với hai số cuối của giải Đặc biệt là thắng với tỷ lệ đặt cược 01 được gấp 70 lần; ngược lại là thua và mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra.

Đánh “lô” là người đánh bạc bỏ tiền ra mua 01 số gồm 02 số tự nhiên bất kỳ, nếu số đã mua trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào trong các giải xổ số kiến thiết miền Bắc từ giải Bảy đến giải Đặc biệt là thắng. Lô được tính theo “điểm”, 1 “điểm” tương đương 23.000 đồng, nếu thắng người đánh bạc sẽ được hưởng tỷ lệ 1 điểm được 80.000 đồng; nếu không có số trùng là thua, người đánh bạc sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra.

Hình thức “lô xiên” gồm: “xiên 2”, “xiên 3”, “xiên 4”, người đánh bạc bỏ tiền ra mua hai, ba, bốn cặp số tự nhiên bất kỳ. Nếu tất cả các số đã mua trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào trong các giải xổ số kiến thiết miền Bắc từ giải Bảy đến giải Đặc biệt là thắng với tỷ lệ 10.000 đồng được 100.000 đồng đối với “xiên 2”, 10.000 đồng được 400.000 đồng đối với “xiên 3”, 10.000 đồng được 1.000.000 đồng đối với “xiên 4”. Ngược lại là thua và mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra.

Ngoài ra Nguyễn Văn Đ còn có hành vi bán số lô, đề cho S và V vào các ngày khác, gồm: Ngày 13/9/2022, bán số lô 85 và 66 cho Ân Văn S, mỗi số 10 điểm, (mỗi điểm 23.000 đồng), tổng số tiền là 460.000 đồng; đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cuối ngày, xác định S trúng cả hai số, được 1.600.000 đồng nên tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn Đ và Ân Văn S ngày 13/9/2022 là 2.060.000 đồng. Ngày 27/9/2022, bán số lô 39 và 74, mỗi số 20 điểm cho Hà Văn V, tổng số tiền đánh là 920.000 đồng; căn cứ kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng xác định V không trúng.

Ngoài bán số lô, đề cho Hà Văn V và Ân Văn S, Nguyễn Văn Đ còn khai nhận ngày 04/10/2022, bán cho một nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ số lô 33 x 30 điểm được 690.000 đồng, tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được người mua số lô trên.

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS-HS ngày 06/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong lời luận tội, đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50, 54 của Bộ luật Hình sự, xem xét: Tuyên bố Nguyễn Văn Đ phạm tội Đánh bạc. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 tháng 13 ngày đến 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền bổ sung vì bị cáo có thu nhập không ổn định, nhà và đất bị cáo đang ở là tài sản duy nhất của hai vợ chồng sống chung cùng mẹ già và con nhỏ.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.100.000 đồng dùng đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc bút bi. Lưu theo hồ sơ vụ án 17 tờ “cáp”, 01 tờ giấy A4. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy J7 và số tiền 3.869.000 đồng.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là sai trái, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, những người làm chứng anh Hà Văn V và anh Ân Văn S vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản khám xét, số tiền và vật chứng bị thu giữ, đồng thời hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp và thẩm tra tại phiên toà; có đủ cơ sở để xác định:

Nguyễn Văn Đ bán hàng nước và kết hợp làm đại lý bán vé xổ số cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số kiến thiết Lạng Sơn; lợi dụng việc bán vé xổ số, Đ đã tự ý bán số lô, đề cho người khác nhằm thu lợi. Trong khoảng thời gian từ 16h00 đến 16h15 cùng ngày 04/10/2022, tại quán bán hàng nước ở khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn Đ bị bắt quả tang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, đề cho Ân Văn S và Hà Văn V với tổng số tiền 5.100.000 đồng.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng, là nguyên nhân tiền đề phát sinh thiệt hại về kinh tế và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp vì mục đích hám lợi, bất chấp pháp luật. Từ các phân tích nêu trên đảm bảo căn cứ kết luận, hành vi của Nguyễn Văn Đ đã cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Để quyết định hình phạt ngoài việc xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, cụ thể:

Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên thuộc trường hợp có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, ban đầu bị cáo có lúc thay đổi lời khai liên quan đến những tờ giấy có ghi các con số (thường được gọi là “cáp”) thu được, tuy nhiên kết quả điều tra không đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội. Đối với hành vi đánh bạc ngày 04/10/2022, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội và thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu (chưa từng bị xét xử) và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (khung hình phạt bị truy tố có mức hình phạt cao nhất đến 03 năm tù) nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt chính: Thấy rằng, bị cáo tự mình thực hiện hành vi phạm tội một cách bột phát, không có đồng phạm; số tiền đánh bạc bị cáo được người chơi trả cho là 5.100.000 đồng, tương ứng ngay gần mức định lượng khởi điểm của tội danh và khung hình phạt (5.000.000 đồng) nên tính chất mức độ phạm tội không lớn, ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng và có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đảm bảo điều kiện để có thể xét xử bị cáo hình phạt tù nhưng ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự.

Phiên tòa xét xử ngày 17/01/2023 cận kề trước thềm tết nguyên đán cổ truyền của dân tộc (tương ứng vào ngày 26/12 âm lịch), thời gian thực tế Nguyễn Văn Đ bị tạm giam tính đến nay đã trên 03 tháng; trong khi bản thân bị cáo tuổi đã cao (62 tuổi), từng là cựu chiến binh tham gia bảo vệ tổ quốc, gia cảnh khó khăn là lao động chính nuôi mẹ già và con nhỏ chưa thành niên. Để thể hiện tính khoan hồng, nhân văn của pháp luật, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt Nguyễn Văn Đ thời hạn phạt tù bằng đúng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam tính đến ngày xét xử là 03 tháng 16 ngày; quyết định trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Hình phạt bổ sung: Căn cứ Biên bản xác minh gia cảnh có xác nhận của chính quyền địa phương, xác định bị cáo có tài sản là quyền sử dụng đất và sở hữu nhà trên đất, tuy nhiên xác định đây là tài sản chung của hai vợ chồng và là nơi ở duy nhất của bị cáo cùng gia đình với mẹ già 99 tuổi và con nhỏ sinh năm 2016 nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 5.100.000 đồng là số tiền bất chính do bị cáo phạm tội bán số lô, đề có được. Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc bút bi là công cụ bị cáo dùng để viết số lô, đề, ký và ghi họ tên. Lưu theo hồ sơ vụ án 17 tờ “cáp”, 01 tờ giấy A4 là tài liệu thu giữ trong quá trình điều tra. Trả lại cho Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7, ngoài việc liên lạc thường ngày, bị cáo còn dùng để chụp ảnh gửi kết quả cho công ty xổ số nhưng không liên quan đến hành vi bán số lô, đề vào ngày 04/10/2022. Trả lại cho bị cáo số tiền 3.869.000 đồng, xác định là tiền bán hàng nước, bán vé xổ số và tiền chung của cả gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về con người, sự việc có liên quan: Đối với việc Nguyễn Văn Đ đánh bạc với Ân Văn S và Hà Văn V vào các ngày 13/9/2022 và 27/9/2022 có số tiền đều dưới mức định lượng 5.000.000 đồng, trong khi đó bản thân các đối tượng tham gia chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hay gá bạc nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 27/12/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Đ, Ân Văn S và Hà Văn V là phù hợp với quy định của pháp luật (ngày 05/01/2023, Nguyễn Văn Đ đã thi hành nộp phạt).

Sự việc Nguyễn Văn Đ tự khai nhận ngày 04/10/2022, có được bán số lô 33 với 30 điểm được 690.000 đồng cho một nam thanh niên nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ người mua; cơ quan điều tra không xác định được lai lịch nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

Đối với các chữ số viết trên tờ giấy A4, kết luận giám định xác định không phải số do Nguyễn Văn Đ viết ra. Vợ của Nguyễn Văn Đ là bà Lê Thị Thu N khai nhận là số do bà viết ra để tổng hợp vé xổ số kiến thiết cho chồng vào cuối ngày, do đó không liên quan đến vụ án.

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị luận tội và các căn cứ áp dụng, xử lý các vấn đề liên quan của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa phù hợp với các nhận định nêu trên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt trong lời nói sau cùng của bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc chấp nhận trong quá trình nghị án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, Điều 50, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 điều 136, các Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tội danh.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Đánh bạc.

2. Hình phạt.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (ba) tháng 16 (mười sáu) ngày tù; xác định bị cáo đã chấp hành xong thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2022 bị tạm giữ, tạm giam đến ngày xét xử 17/01/2023 (106 ngày).

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước số tiền 5.100.000đ (năm triệu, một trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chiếc bút bi nhãn hiệu “matixs F0-024”, đã qua sử dụng có mực màu đen và mực màu xanh

- Trả lại cho Nguyễn Văn Đ:

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 662024, IMEI 2: 662022, trong điện thoại gắn sim số 0912.732.099;

+ Số tiền 3.869.000đ (ba triệu, tám trăm, sáu mươi chín nghìn đồng).

- Lưu theo hồ sơ vụ án 17 tờ “cáp” và 01 tờ giấy A4 thu giữ.

(Vật chứng cùng số tiền hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn và được mô tả chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/01/2023).

4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ