- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh X và bị cáo Hồ Thị Kim C phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 05/2023/HS-ST Ngày 10-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Vũ
2. Bà Lê Thị X Hiền
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2022/TLHS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Nguyễn Thanh X, sinh năm 1971 (tên gọi khác Hiền); Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Đỗ Thị Kim P (chết); Vợ Hồ Thị Kim C; có 01 con sinh năm 2000; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2022 đến nay.
Bị cáo “có mặt”.
2. Bị cáo Hồ Thị Kim C, sinh năm 1971 (tên gọi khác Tiền); Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Quang P (chết) và bà Phạm Thị N (chết); Chồng Nguyễn Thanh X; Có 01 con sinh năm 2000. Tiền án: Không; Tiền sự: không
Bị cáo tại ngoại “có mặt”.
Người bào chữa cho hai bị cáo: Luật sư Lưu Ngọc T – Văn phòng luật sư Lưu Ngọc T thuộc Đoàn luật sư thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Trương Thị G, sinh năm 1958 “vắng mặt”
Bà Trương Thị Đ, sinh năm 1965 “vắng mặt”
Ông Nguyễn Phú P, sinh năm 1969 “vắng mặt”
Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1966 “vắng mặt”
Ông Ngô Văn H, sinh năm 1972 “vắng mặt”
Ông Nguyễn Thị N, sinh năm 1961“vắng mặt”
Ông Hồ Văn K, sinh năm 1975 “vắng mặt”
Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1967 “vắng mặt”
Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, thành phố Cần Thơ
Bà Đỗ Ngọc D, sinh năm 1972 “vắng mặt”
Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện Đ, thành phố Cần Thơ
Bà Phạm Tuyết N, sinh năm 1980 “có mặt”
Nơi cư trú: Ấp L2, xã T, huyện Đ, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 35 phút ngày 04 tháng 5 năm 2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Cờ Đỏ tiến hành khám xét người và chổ ở đối với Nguyễn Thanh X thuộc ấp P, xã T, huyện Đ, thành phố Cần Thơ.
Quá trình khám xét thu giữ:
- 01 điện thoại di động Samsung A13 màu xám số IMEI 352469851514431, cùng sim số 0919335948;
- Tiền Việt Nam 2.670.000 đồng;
- 01 tờ phơi số đề;
- 02 tờ giấy can kích thước 5 x 11 cm;
- 01 cùi phơi số đề bìa màu vàng bên trong có 16 tờ phơi có nội dung liên quan đến số đề;
- 01 cùi phơi số đề màu trắng bên trong có ghi ngày liên quan đến số đề;
- 02 cây viết mực xanh;
- 02 cây viết mực đỏ;
- 01 hộp nhựa màu trắng hình vuông kích thước 20 x 20 cm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Cờ Đỏ tiến hành kiểm tra dữ liệu trên điện thoại di động Samsung A13 màu xám số IMEI 352469851514431 (do Nguyễn Thanh X sử dụng) tại thư mục “Ảnh” có 96 hình ảnh được chụp lại có nội dung liên quan đến việc ghi số đề.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo Nguyễn Thanh X ghi bán số đề được 17 ngày từ ngày 18/4/2022 đến ngày 04/5/2022, theo kết quả xổ số kiến thiết các đài miền Nam và miền Bắc, với hình thức số đầu, số đuôi và bao lô 02 con số, mua 1.000 đồng trúng 80.000 đồng, bị cáo tính ăn thua trực tiếp với những người mua số đề. Hàng ngày, bị cáo ghi bán số đề và tính tiền ăn, thua, chung chi với những người mua số đề tại nhà hoặc đến quán cà phê Út Tín kế bên nhà bị cáo, khi có người mua số đề thì bị cáo sẽ ghi vào tờ phơi nhỏ đưa cho người mua số đề. Sau đó, bị cáo tổng hợp vào tờ phơi tổng. Trong thời gian ghi bán số đề bị cáo thu lợi bất chính số tiền 33.266.000 đồng. Các lần ghi bán số đề cụ thể N sau:
- Ngày 18/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Đồng Tháp với tổng số tiền là 5.510.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 3.600.000 đồng; đài Cà Mau số tiền 400.000 đồng; đài Miền Bắc số tiền 3.677.500 đồng, trong đó số tiền trúng là 1.600.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 9.587.500 đồng.
- Ngày 19/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Bạc Liêu với tổng số tiền là 4.100.000 đồng, trong đó tiền trúng là 1.600.000 đồng; đài Miền Bắc số tiền là 3.087.500 đồng, trong đó tiền trúng là 1.120.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 7.187.500 đồng.
- Ngày 20/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Cần Thơ với tổng số tiền 3.895.000 đồng, trong đó tiền trúng 1.280.000 đồng; đài Sóc Trăng số tiền là 610.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 5.865.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.480.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 10.370.000 đồng.
- Ngày 21/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài An Giang với tổng số tiền là 6.795.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.960.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 6.085.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.720.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 12.880.000 đồng.
- Ngày 22/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Vĩnh Long với tổng số tiền 4.315.000 đồng, trong đó tiền trúng là 2.080.000 đồng; đài Trà Vinh tổng số tiền là 1.935.000 đồng, trong đó tiền trúng là 1.200.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 4.420.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 560.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 10.670.000 đồng.
- Ngày 23/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Long An với tổng số tiền 3.125.000 đồng, trong đó tiền trúng là 480.000 đồng; đài Hậu Giang tổng số tiền là 2.005.000 đồng, trong đó tiền trúng là 800.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 7.882.500 đồng, trong đó số tiền trúng là 4.240.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 13.012.500 đồng.
- Ngày 24/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Kiên Giang với tổng số tiền là 5.305.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.240.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 4.360.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 800.000 đồng. Tổng số tiền X bán số đề và trúng là 9.665.000 đồng.
- Ngày 25/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Đồng Tháp với tổng số tiền 4.240.000 đồng, trong đó tiền trúng là 800.000 đồng; đài Cà Mau số tiền là 705.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 3.515.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 160.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 8.460.000 đồng.
- Ngày 26/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Bạc Liêu với tổng số tiền là 5.040.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 1.680.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 6.290.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 3.840.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 11.330.000 đồng.
- Ngày 27/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Cần Thơ với tổng số tiền là 7.560.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.080.000 đồng; đài Sóc Trăng số tiền là 520.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 4.437.500 đồng, trong đó số tiền trúng là 960.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 12.517.500 đồng.
- Ngày 28/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài An Giang với tổng số tiền là 4.080.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 1.200.000 đồng đài Miền Bắc với tổng số tiền là 7.332.500 đồng, trong đó số tiền trúng là 4.960.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 11.402.500 đồng.
- Ngày 29/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Vĩnh Long với tổng số tiền là 7.145.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 4.320.000 đồng; đài Trà Vinh số tiền là 385.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 2.790.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 640.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 10.320.000 đồng.
- Ngày 30/4/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Long An với tổng số tiền là 3.225.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 1.200.000 đồng; đài Hậu Giang số tiền là 1.500.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 2.892.500 đồng, trong đó số tiền trúng là 800.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 7.617.500 đồng.
- Ngày 01/5/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Kiên Giang với tổng số tiền là 5.120.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.400.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 5.720.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.720.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 10.840.000 đồng.
- Ngày 02/5/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Đồng Tháp với tổng số tiền 3.320.000 đồng, trong đó tiền trúng là 400.000 đồng; đài Cà Mau số tiền là 830.000 đồng, trong đó tiền trúng là 400.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 4.052.500 đồng, trong đó số tiền trúng là 1.200.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 8.202.500 đồng.
- Ngày 03/5/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Bạc Liêu với tổng số tiền 5.945.000 đồng, trong đó số tiền trúng là 2.560.000 đồng; đài Miền Bắc với tổng số tiền là 3.657.500 đồng, trong đó số tiền trúng là 800.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán số đề và trúng là 9.602.500 đồng.
- Ngày 04/5/2022 bị cáo ghi bán số đề đài Cần Thơ cho 07 người với tổng số tiền là 2.270.000 đồng, trong đó bán cho Hồ Văn K với số tiền là 30.000 đồng và 06 người khác không rõ họ tên; ghi bán số đề đài Sóc Trăng tổng số tiền là 450.000 đồng.
Bị cáo Hồ Thị Kim C là vợ của bị cáo Nguyễn Thanh X. Bị cáo C giúp bị cáo X ghi bán số đề những lúc bị cáo X bận công việc. Cơ quan điều tra đã xác định được bị cáo C giúp bị cáo X ghi bán số đề ngày 03/5/2022, đài Bạc Liêu số tiền 5.945.000 đồng và ngày 04/5/2022, đài Cần Thơ số tiền là 2.270.000 đồng, đài Sóc Trăng số tiền là 450.000 đồng. Bị cáo C ghi bán số đề cho Trương Thị Đ, Lê Thị G, Nguyễn Thị N, Phạm Ngọc T, Ngô Văn H, Nguyễn Phú P và 02 người không biết rõ họ tên.
Sau khi vụ án được truy tố, tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo X có tường trình và cung cấp 01 USB có nội dung trao đổi giữa bị cáo C với Đỗ Ngọc D, cho rằng bị cáo X không ăn thua trực tiếp với những người mua số đề mà giao cho thầu đề có tên Đỗ Ngọc D để hưởng huê hồng 15% trên tổng số tiền bán được trong ngày đối với lô A, B 02 con số và 5% đối với bao lô 02 con số. Hàng ngày, bị cáo X ghi bán số đề xong, tổng hợp phơi đề sau đó dùng điện thoại di động hiệu SamSung A 13 màu xám sim số 0919335948 chụp hình phơi đề và sử dụng tài khoản Zalo có tên Út Hiền gửi qua ứng dụng Zalo của D có tên Tấn Phát. Sau khi có kết quả xổ số bị cáo X tính tiền lời, lỗ và liên lạc với D qua số điện thoại 0919995949 và đến nhà D nhận tiền về chung chi với những người mua số đề tại nhà hoặc đến quán cà phê Út Tín kế bên nhà bị cáo X. Khi có người mua số đề, bị cáo X sẽ ghi vào tờ phơi nhỏ đưa cho người mua số đề. Sau đó bị cáo X sẽ ghi tổng hợp vào tờ phơi tổng. Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo X còn cho rằng chi tiêu, sinh hoạt chính trong gia đình do chị ruột là Nguyễn Thị P và cháu ruột là Nguyễn Thị Thùy H chu cấp, không sử dụng tiền thu lợi từ việc ghi số đề làm nguồn sống chính.
Cơ quan điều tra đã xác định được Đỗ Ngọc D nhận phơi đề của bị cáo X từ ngày 01/3/2022 đến ngày 13/3/2022 đài Miền Nam và Miền Bắc qua ứng dụng Zalo của D với tên Tấn Phát, sau khi nhận phơi đề của X xong D sử dụng tên tài khoản Zalo là Tấn Phát gửi dùm phơi đề của X cho Phạm Tuyết N, sinh năm 1980, trú quán ấp L2, xã A, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ. X tính tiền lời, lỗ sau đó đưa cho D, D đưa lại cho N và ngược lại, số tiền mỗi ngày bao nhiêu D không biết. D gửi dùm phơi đề để X có tiền trả nợ cho D, D không hưởng lợi ích. Ngoài bị cáo X ra D không còn nhận gửi dùm phơi đề cho ai hết.
Đối với Phạm Tuyết N, có nhận phơi đề từ bị cáo X thông qua D từ ngày 01/3/2022 đến ngày 13/3/2022. Tuy nhiên Cơ quan điều tra không thu giữ được điện thoại của D và N do bị mất, nên không tiến hành kiểm tra được nội dung bên trong điện thoại.
Đối với hành vi tham gia đánh bạc của Hồ Văn K, Phạm Ngọc T, Trương Thị Đ, Nguyễn Thị N, Ngô Văn H, Lê Thị G, Nguyễn Phú P chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Đỗ Văn T là chủ quá cà phê Út tín không biết bị cáo X bán và chung chi tiền ghi bán số đề tại quán cà phê của mình. Đỗ Ngọc D, Phạm Tuyết N là người nhận phơi đề của bị cáo X, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Cờ Đỏ không thu giữ được điện thoại của D và N, không có chứng cứ xác định được số tiền phơi mà D và N nhận của bị cáo X, nên chưa đủ cơ sở để xử lý đối với T, Dg và N.
Đối tượng đánh bạc Nguyễn Phú P giao nộp 01 tờ giấy màu trắng phía trên có ghi CT-4-5 và những con số bằng viết mực xanh; Trương Thị Đ giao nộp 570.000 đồng; Lê Thị G giao nộp 20.000 đồng; Nguyễn Thị N giao nộp 240.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT - VKSCĐ ngày 13 tháng 20 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Thanh X và Hồ Thị Kim C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Về trách nhiệm hình sự: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích chứng cứ, luận tội đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo X từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị Kim C từ 06 tháng đến 01 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo X phải nộp từ 15.000.000đồng đến 20.000.000đồng, buộc bị cáo C phải nộp từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng sung công quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công Quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung A13 màu xám của bị cáo X.
Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại số 0919335948, 02 cây viết mực xanh, 02 cây viết mực đỏ, 01 hộp nhựa màu trắng hình vuông kích thước 20 x 20cm.
Lưu Kèm hồ sơ vụ án 01 tờ phơi số đề, 02 tờ giấy can kích thước 5 x 11 cm; 01 cùi phơi số đề bìa màu vàng bên trong có 16 tờ phơi có nội dung liên quan đến số đề; 01 cùi phơi số đề màu trắng bên trong có ghi ngày liên quan đến số đề.
Buộc bị cáo X phải nộp 30.849.000đồng tiền thu lợi bất chính trong thời gian ghi bán số đề.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Cả hai bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo C xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo chăm sóc gia đình và nuôi con ăn học.
NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định N sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Qua đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nH thấy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng truy tố và khai nH:
Bị cáo X khai nhận: Bị cáo ghi bán số đề được 17 ngày, bắt đầu từ ngày 18/4/2022 đến ngày 04/5/2022, theo kết quả xổ số kiến thiết các đài miền Nam và miền Bắc, với hình thức số đầu, số đuôi và bao lô 02 con số, mua 1.000 đồng trúng 80.000 đồng. Hàng ngày, bị cáo ghi bán số đề, sau đó tổng hợp phơi đề giao nộp cho thầu để hưởng huê hồng 15% trên tổng số tiền bán được trong ngày đối với lô A, B 02 con số và 5% đối với bao lô 02 con số. Trong thời gian ghi bán số đề bị cáo C (vợ bị cáo) có giúp sức cho bị cáo ghi 02 ngày khi bị cáo đi vắng. Trong thời gian ghi bán số đề bị cáo thu lợi bất chính số tiền 33.266.000 đồng.
Bị cáo C thừa nhận có giúp bị cáo X ghi bán số đề trong hai ngày, bị cáo không hưởng lợi bất chính từ bị cáo X.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với những chứng cứ thu thập có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì ham lợi bất chính mà thực hiện hành vi ghi bán số đề, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo ghi bán số đề từ ngày 18/4/2022 đến ngày 04/5/2022, trong đó có 14 đài ghi bán số tiền trên 5.000.000đồng. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo X phạm tội từ hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tự nguyện nộp một phần tiền thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Hình phạt:
Bị cáo X là người trực tiếp ghi số đề nhiều lần, trong nhiều ngày, số tiền thu lợi bất chính lớn. Do đó, hình phạt dành cho bị cáo phải nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với tệ nạn cờ bạc nhất là số đề diễn ra ngày càng nhiều trên địa bàn hiện nay.
Bị cáo C là vợ của bị cáo X có hành vi giúp sức cho bị cáo X ghi bán số đề trong hai ngày, không hưởng lợi bất chính từ bị cáo X. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 1 Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự cần buộc bị cáo X phải nộp một khoản tiền để sung công quỹ Nhà Nước. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo C do không hưởng lợi bất chính.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo X và số tiền bị cáo bán số đề, các đối tượng đánh bạc giao nộp có giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Các dụng cụ thu giữ N viết, hộp nhựa, sim điện thoại không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các tờ phơi có liên quan đến việc ghi số đề lưu kèm hồ sơ vụ án.
Tiền bị cáo X thu lợi bất chính trong thời gian ghi bán số đề từ ngày 18/4/2022 đến ngày 04/5/2022 là 40.349.000đồng. Trong số tiền 2.670.000đồng thu giữ của bị cáo có 1.470.000đồng là tiền bị cáo bán số đề, 1.200.000đồng là tiền cá nhân của bị cáo đồng ý trừ vào tiền thu lợi bất chính, 830.000đồng là tiền các đối tượng đánh bạc giao nộp, bị cáo tự nguyện giao nộp tại Chi cục thi hành án số tiền thu lợi bất chính 6.000.000đồng, tổng cộng là 9.500.000đồng. Sau khi khấu trừ, bị cáo còn phải nộp tiền thu lợi bất chính là 30.849.000đồng (40.349.000đồng – 9.500.000đồng = 30.849.000đồng).
[7] Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo X, áp dụng điểm i, s, b khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo C, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo X, bị cáo C đề nghị cho hưởng án treo. Xét thấy, quá trình tố tụng bị cáo X chưa thành khẩn khai báo, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo X là phù hợp. Đối với số tiền bị cáo X tự nguyện giao nộp là tiền thu lợi bất chính, không phải là tiền bồi thường thiệt hại, khắc P hậu quả nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo. Đối với đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo C được hưởng án treo là có căn cứ nên chấp nH.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
[9] Đối với hành vi tham gia đánh bạc của Hồ Văn K, Phạm Ngọc T, Trương Thị Đ, Nguyễn Thị N, Ngô Văn H, Lê Thị G, Nguyễn Phú P chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Đỗ Ngọc D, Phạm Tuyết N là người nhận phơi đề của bị cáo X, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Cờ Đỏ không thu giữ được điện thoại của D và N, không có chứng cứ xác định được số tiền phơi mà Dg và N nhận của bị cáo X, nên chưa đủ cơ sở để xử lý đối với các đối tượng trên. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ có cơ sở sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh X và bị cáo Hồ Thị Kim C phạm tội “Đánh bạc”
Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2022.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Hồ Thị Kim C 09 (chín) tháng tù Nng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 10/01/2023.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, thành phố Cần Thơ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp trong quá trình chấp hành án người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh X phải nộp 15.000.000đồng Sung công quỹ Nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Hồ Thị Kim C.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công Quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung A13 màu xám của bị cáo X và số tiền 9.500.000đồng. Trong đó, tiền bị cáo X ghi bán số đề là 1.470.000đồng, tiền mua số đề các con bạc giao nộp là 830.000đồng (Trương Thị Đ giao nộp 570.000đồng, Lê Thị G giao nộp 20.000đồng, Nguyễn Thị N giao nộp 240.000đồng), bị cáo X tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính là 7.200.000đồng (1.200.000đồng thu giữ trong tổng số tiền 2.670.000đồng lúc bắt quả tang, 6.000.000đồng bị cáo giao nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu số 0009155 ngày 09/01/2023). Buộc bị cáo X phải nộp tiền thu lợi bất chính còn lại là 30.849.000đồng.
Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại số 0919335948, 02 cây viết mực xanh, 02 cây viết mực đỏ, 01 hộp nhựa màu trắng hình vuông kích thước 20 x 20cm.
Lưu Kèm hồ sơ vụ án 01 tờ phơi số đề, 02 tờ giấy can kích thước 5 x 11 cm; 01 cùi phơi số đề bìa màu vàng bên trong có 16 tờ phơi có nội dung liên quan đến số đề; 01 cùi phơi số đề màu trắng bên trong có ghi ngày liên quan đến số đề.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKSCĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 và bản thống kê vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
Bị cáo Nguyễn Thanh X phải nộp 200.000đồng.
Bị cáo Hồ Thị Kim C phải nộp 200.000đồng.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt, được quyền làm kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nH: - Bị cáo; - Bị hại; - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Cờ Đỏ; - Cơ quan THAHS Công an huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS sự huyện Cờ Đỏ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Viễn |