vanban.org

Bản án 05/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 08/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HS-ST ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh về hình phạt đối với bị cáo Kim T. Tuyên bố: Bị cáo Kim T phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS-PT
Ngày: 08/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến

Ông Đặng Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến Tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Văn Tấn – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 02/2023/HSPT, ngày 11/01/2023 đối với bị cáo Kim T. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HS – ST, ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo bị háng nghị: Kim T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại Trà Vinh; nơi cư trú: ấp Xoài R, xã Kim S, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Kh sinh năm 1940 và bà Diệp Thị Th, sinh năm 1947; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 21/4/2017 Kim T bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng về tội tổ chức đánh bạc theo bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2017/HSST, đến tháng 4/2022 thi hành án xong, nhưng chưa được xóa án tích; tiền sự: Không.

Nhân thân: ngày 04/5/2016 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 152/QĐ-XPHC (lần bị xử phạt hành chính này bị cáo đã chấp hành xong và đã xóa tiền sự); bị tạm giữ từ ngày 02/8/2022 đến ngày 05/8/2022 được trả tự do và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (bị cáo có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Kim T: Luật sư Nguyễn Tiến L; Văn phòng Luật sư Tiến L thuộc đoàn luật sư tỉnh Trà Vinh (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Trần Thị Th, Kim Pho L, Thạch O, do không có kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/8/2022 các bị cáo Trần Thị Th, Kim T, Kim Pho L và Thạch O chơi bầu cua được thắng thua bằng tiền tại nhà bà Diệp Thị U, sinh năm 1987 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt quả tang, bị cáo Trần Thị Th đang ngồi trên chiếu bạc, cùng với số tiền 3.590.000 đồng và bị cáo Kim T thì cầm số tiền 2.625.000 đồng bỏ chạy cách chỗ bị cáo Th khoảng 10 m. Riêng đối với bị cáo Kim Pho L thì bỏ chạy thoát. Lực lượng Công an thu giữ bộ dụng cụ dùng để lắc bầu của bị cáo Th và tổng số tiền 1.235.000 đồng của các đối tượng đánh bạc bỏ lại trên chiếu bạc. Qua điều tra đã xác định được vai trò của từng người và số tiền dùng để đánh bạc như sau:

- Bị cáo Trần Thị Th là người rủ bị cáo T đánh bạc, chuẩn bị bộ dụng cụ lắc bầu cua. Khi đánh bạc, bị cáo Th tham gia với vai trò nhà cái trực tiếp lắc bầu cua, cá cược thắng thua với các tay con, bị cáo Th sử dụng số tiền 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an bắt quả tang, bị cáo Th thắng được số tiền 1.590.000 đồng. Cơ quan công an đã lập biên bản và tạm giữ tổng số tiền của bị cáo Th là 3.590.000 đồng.

- Bị cáo Kim T sử dụng số tiền 1.725.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với vai trò tay con, kết quả khi lực lượng Công an bắt quả tang, bị cáo T thắng số tiền 900.000 đồng. Cơ quan công an đã lập biên bản và tạm giữ tổng số tiền của bị cáo T là 2.625.000 đồng.

- Bị cáo Kim Pho L là người tự đến, khi đánh bạc sử dụng số tiền 2.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với vai trò tay con, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, bị cáo L thua số tiền 2.410.000 đồng, còn lại số tiền 90.000 đồng bị cáo L mang theo khi bỏ chạy khỏi hiện trường. Cơ quan Công an đã lập biên bản và tạm giữ số tiền của bị cáo L là 90.000 đồng.

- Đối với bị cáo Thạch O là người tự đến chơi sau cùng, khi đánh bạc sử dụng số tiền 80.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với vai trò tay con. Bị cáo O đặt tổng cộng 04 ván, kết quả thua hết số tiền 80.000 đồng. Do hết tiền, bị cáo O nghỉ chơi, bỏ đi về nhà trước khi công an vào bắt quả tang.

Như vậy, tổng số tiền dùng đánh bạc của các bị cáo Trần Thị Th, Kim T, Kim Pho L và bị cáo Thạch O được xác định, thu giữ là 6.305.000 đồng (trong đó của bị cáo Th là 3.590.000đ, bị cáo T là 2.625.000 đồng; còn lại 90.000 đồng là của bị cáo L).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HS - ST ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Kim T 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt các cáo Trần Thị Th, Kim Pho L, Thạch O, về tội “Đánh bạc”, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/12/2022, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh ký Quyết định kháng nghị số 22/QĐ-VKS. Nội dung kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HSST ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh về hình phạt đối với bị cáo Kim T, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HSST ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh chuyển từ hình phạt tiền sang hình phạt tù có thời hạn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Bị cáo Kim T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm và giao nộp một biên lai tạm thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự huyện T với số tiền 50.000.000 đồng.

- Quan điểm đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Kim T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Kim T 50.000.000 đồng là chưa phù hợp, chưa nghiêm, chưa tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo vì bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã bị kết án về tội tổ chức đánh bạc ngày 21/4/2017 hình phạt chính là phạt tiền 10.000.000 đồng đến tháng 4/2022 mới chấp hành xong, như vậy tiền án chưa được xóa nhưng bị cáo tiếp tục đến ngày 02/8/2022 thực hiện hành vi đánh bạc là tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đánh bạc ngày càng gia tăng hiện nay và phục vụ chính trị tại địa phương. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo tù có thời hạn từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

- Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Kim T: Vị nhất trí với tội danh và Điều khoản mà Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo. Tuy nhiên qua xem xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh về phần nội dung xét thấy rằng kháng nghị không có gì mới so với bản án sơ thẩm, vì bản án sơ thẩm nhận định và áp dụng cho bị cáo tất cả các tình tiết giảm nhẹ trong đó có cả tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng vậy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh kháng nghị làm xấu đi tình trạng của bị cáo, đồng thời sau khi xét xử bị cáo đã đến Chi cục thi hành án huyện T tự nguyện thi hành án bản án nộp số tiền 50.000.000 đồng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, giữ nguyên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T.

Lời sau cùng của bị cáo: Mong Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên án sơ thẩm để bị cáo ở ngoài lo cho gia đình và vợ mới cưới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Lời khai tại phiên tòa phúc thẩm của bị cáo Kim T phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ như lời khai của Trần Thị Th, Kim Pho L và Thạch O, biên bản hiện trường, tiền tham gia đánh bạc, từ đó có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 02/8/2022, bị cáo cùng bị cáo Trần Thị Th, Kim Pho L và Thạch O chơi bầu cua cá cược thắng thua bằng tiền tại nhà bà Diệp Thị U, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện bắt quả tang tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 6.305.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào hành vi bị cáo đã thực hiện, căn cứ vào tổng số tiền đánh bạc trong vụ án này đã xét xử bị cáo Kim T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Kim T có nhân thân xấu vì ngày 04/5/2016 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; về tiền án ngày 21/4/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng về tội tổ chức đánh bạc nhưng bị cáo không từ bỏ tiếp tục phạm tội điều đó cho thấy bị cáo tỏ ra thách thức và xem thường pháp luật, việc phạt tiền là không có tác dụng để cảm hóa, giáo dục đối với bị cáo thành người tốt và bị cáo phạm tội lần này là thuộc trường hợp phải áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt chính phạt tiền đối với bị cáo là chưa nghiêm đánh giá chưa đúng về nhân thân bị cáo và tính toàn diện, khách quan vụ án, hình phạt cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, từ phân tích nêu trên xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tù có thời hạn để đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo phòng ngừa các loại tội phạm đánh bạc trong thời gian tới phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. Do đó kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận, sửa án sơ thẩm chuyển từ hình phạt chính phạt tiền sang tù có thời hạn theo Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Đối với số tiền 50.000.000 đồng Chi cục Thi hành án dân sự huyện T tạm thu của bị cáo Kim T là do bị cáo tự động nộp theo biên lai thu tiền số 0001549 ngày 29/12/2022, do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm từ hình phạt tiền sang hình phạt tù có thời hạn, do đó bị cáo Kim T được nhận lại số tiền nêu trên.

Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Kim T cho rằng kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là gây xấu đi tình trạng của bị cáo là hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật và đề nghị bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, giữ nguyên án sơ thẩm là chưa phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.

Về phần án phí: Bị cáo Kim T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không sửa đổi bổ sung có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HS-ST ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh về hình phạt đối với bị cáo Kim T.

Tuyên bố: Bị cáo Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 , điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Kim T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 02/8/2022 đến ngày 05/8/2022.

Bị cáo Kim T được nhận lại số tiền 50.000.000 đồng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh tạm thu của bị cáo theo biên lai thu tiền số 0001549 ngày 29/12/2022.

Về án phí: Bị cáo Kim T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ