vanban.org

Bản án 05/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lai Châu Tuyên án 05/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạmtội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A P 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 2 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Ph - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạmtội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2023/HS-PT
Ngày 08-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang,

Các Thẩm phán: Ông Vàng Xuân Hiệp,

Ông Bùi Ngọc Bính

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo – Thư ký TAND tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08/12/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩmcông khai vụ án hình sựphúc thẩm thụ lý số:06/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm2023 đối vớibị cáo Giàng A P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩmsố 110 /2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm2023 của Tòa án nhân dân huyện T,tỉnh Lai Châu.

- Bị cáo có kháng cáo: Giàng A P - giới tính: Nam. Sinh ngày 01/4/1996; tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mông. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp : Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không có. Con ông: Giàng Dũng C và bà Vàng Thị N. Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình. Bị cáo có vợ: Hờ Thị P và có 01 con. Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, bị thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng quyết định bị bắt, tạm giam số 06/2023/HSST-QĐTG ngày 27 tháng 11năm2023. Bị cáo được Tòa án phúc thẩmtriệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa (không có lý do chính đáng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/3/2023,Giàng A P, sinh năm 1996, trú tại bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên là người có giấy phép lái xe ô tô theo quy định (hạng C) đến lái xe thuê cho Công ty TNHH đầu tư và xây dựng M trụ sở chính tại khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, hiện đang làm một số công trình tại tỉnh Lai Châu. Ngày 28/3/2023, Giàng A P được doanh nghiệp M giao cho 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI, số loại xe tải ben, màu sơn trắng, biển kiểm soát 27C-001.59 đến làm việc tại công trình nâng cấp tuyến đường Tỉnh lộ 133 đi từ xã N vào xã NS, huyện T, tỉnh Lai Châu. Ngày 03/4/2023, Giàng A P lái xe chở đá đổ nền đường theo nhiệm vụ được p hân công. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI, số loại xe tải ben, màu sơn trắng, biển kiểm soát 27C-001.59 chở đá từ vị trí tập kết vật liệu xây dựng của công trình thuộc bản P, xã N, huyện T đến các vị trí cần đổ đá để thi công công trình.Đến khoảng 15 giờ 50 cùng ngày, P điều khiển xe ô tô chở đá trên đường Tỉnh lộ 133 theo hướng đi xã N, huyện T, khi đến Km10+200m Tỉnh lộ 133 thuộc địa phận bản P, xã N, huyện T thì P điều khiển xe sang sát lề đường bên trái theo chiều đi của mình rồi dừng xe và bắt đầu lùi xe chở đá vào vị trí đổ đá trên đường nhưng do không chú ý quan sát phía sau và không đảm bảo an toàn khi lùi xe (khi lùi xe có đèn báo hiệu tự động khi lùi xe và Ph chỉ quan sát phía sau qua gương chiếu hậu) nên đã đâm vào xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, màu sơn đỏ xám đen, biển kiểm soát 25… do ông Lò Thanh H, sinh năm 1957,trú tại bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu đang điều khiển đi cùng chiều và cũng đi sát lề đường bên trái theo chiều đi của mình. Lúc này, P cảm nhận thấy bánh xe phía sau cùng bên lái chèn qua vật gì đó nhưng quan sát qua gương hai bên thì không thấy gì nên P tiếp tục lùi thêm khoảng 50 cm nữa rồi mới thò đầu ra quan sát thì nhìn thấy ông Lò Thanh H và xe mô tô đang nằm ở giữa giàn lốp thứ nhất với giàn lốp thứ hai của chiếc xe ô tô do P đang điều khiển. Thấy vậy, Giàng A P dừng và xuống xe kiểm tra thì thấy ông H bị thương nặng xe mô tô cũng vị hư hỏng đang nằm ở dưới gầm xe ô tô do P điều khiển. Lúc này Giàng A P mới biết mình đã lùi ô tô gây tai nạn nên đã gọi anh Quàng Văn T, sinh năm 1990 trú tại bản Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên là người đang lái máy xúc ở phía trước đầu xe của P ra hỗ trợ. Nghe thấy P gọi thì anh T xuống máy xúc đi đến vị trí tai nạn, thấy ông H vẫn bị kẹt ở trong gầm xe ô tô nên đã nhanh chóng đi tìm người hỗ trợ, còn P ở lại đỡ người ông H. Quàng Văn T chạy đến vị trí xe ô tô tải do anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1970 trú tại bản S, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu điều khiển dừng cách đó khoảng 50 mét để nhờ hỗ trợ, anh H đồng ý và anh Ttiếp tục gọi anh Bùi Ngọc V, sinh năm 1986 trú tại Đội 3, xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (là chỉ huy công trường) đang đứng cách vị trí xảy ra tai nạn khoảng 100 mét để báo cáo sự việc. Sau đó anh H, V, T đến cùng giúp P đưa ông H ra khỏi gầm xe ô tô tải. Sau đó, ông H được P cùng anh H,V và T đưa lên thùng xe của anh H để đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện T. Hậu quả: Ông Lò Thanh Hại đã tử vong tại Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Lai Châu, xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nhẹ.

Đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Lò Thanh H là anh Lò Văn T, sinh năm 1983, trú tại bản T, xã T, huyện Tnhận thấy xe mô tô bị hư hỏng nhẹ nên từ chối định giá tài sản để giải quyết và không yêu cầu bồi thường về việc xe mô tô bị hư hỏng; Anh Hà Xuân Y nhận thấy xe ô tô bị hư hỏng nhẹ nên từ chối định giá tài sản để giải quyết và không yêu cầu bồi thường về việc xe ô tô bị hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Lai Châu lập vào hồi 17 giờ 00 p hút ngày 03/4/2023 xác định: Khám nghiệm hiện trường theo hướng xã N đi xã N, huyện T; lấy mép bờ bao phía bên ngoài lề đường bên trái làm mép chuẩn. Lấy cột VNPT 11 nằm ở phía bên trái đường làm điểm cố định. Qua khám nghiệm hiện trường xác định nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là tại Km 10+150m đường Tỉnh lộ 133 thuộc địa phận bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu. Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng; mặt đường đất bị đào xới gồ ghề do đang trong giai đoạn thi công nâng cấp tuyến đường; lòng đường rộng 5,8m; lề đường bên trái rộng 1,4m được đắp đất cao 30cm; lề đường bên p hải sát với chân tả luy dương. Cách hiện trường nơi xảy ra tai nạn 01 km về hướng xã N, huyện T có biển báo “Công trường đang thi công đi chậm 5km/giờ”. Cách hiện trường nơi xảy ra tai nạn 50 mét về hướng xã N, huyện Tcó biển báo “Công trường đang thi công đi chậm 5km/giờ”.

Quá trình khámnghiệm hiện trường phát hiện: Tại vị trí trên lòng đường cách điểm cố định 27,6m về phía xã N, huyện Ttrên mặt đường là xe mô tô biển kiểm soát 25U1-0836 bị đổ nghiêng sang trái, đầu xe hướng về p hía xã N, huyện Tđuôi xe hướng về xã N, huyện T bánh trước và phần đầu xe bị phần phía sau bánh trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 27C-001.59 chèn lên; trục trước xe mô tô cách điểm cố định 27,6m, cách mép chuẩn 2,1m; trục sau xe mô tô cách mép chuẩn 2,5m. Xe ô tô biển kiểm soát 27C-001.59 đỗ trên phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm, đầu xe hướng về xã N, huyện T đuôi xe hướng về xã N huyện T; phần phía sau bánh trước bên trái của xe ô tô chèn lên phần đầu và bánh trước của xe mô tô; trục trước bên trái xe ô tô cách mép chuẩn 1,65m,trục giữa bên trái ra mép chuẩn 2,02m, trục sau bên trái cách ra mép chuẩn 2,1m.

Ngày 03/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám nghiệm phương tiên tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đối với xe mô tô biển kiểm soát 25U xác định: Cụm bàn thờ, đèn pha,mặt vị vỡ, hỏng. Ghi đông cong biến dạng; Khung trước cong vênh, càng hai bên cong vênh, vỡ. Hệ thống phanh trước cong, biến dạng; Bưởng máy bị vỡ; dàn để chân cong vênh, biến dạng; Chân phanh, cần số cong vênh biến dạng; Tay xách, bình xăng cong vênh biến dạng; Giảm xóc sau hai bên cong vênh biến dạng.

Ngày 03/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám nghiệm phương tiên tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đối với xe ô tô biển kiểm soát 27C xác định: Tại vị trí mặt lốp phía bên ngoài của dàn lốp thứ hai bên trái phát hiện đám dịch màu đỏ nghi là máu, kích thước 17cm x 9cm, vị trí tâm vết cách chân van 73cm theo hướng cùng chiều kim đồng hồ; Tại vị trí mặt lốp phía bên trong của dàn lốp thứ hai bên trái p hát hiện đám dịch màu đỏ máu, kích thước 20cm x10cm, vị trí tâm vết cách chân van 73cm theo hướng cùng chiều kim đồng hồ; Đèn sườn sau bên trái bị vỡ kích thước 8,5cm x 3cm, mép dưới đèn cách mặt đất 1,25m; Mặt ngoài chắn bùn sau bên trái có vết trượt dạng mất bụi, kích thước 36cm x 13cm, cách mặt đất 66cm.

Hồi 16 giờ 16 phút ngày 03/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Lai Châu tiến hành lập biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Giàng A P xác định: Giàng A P không sử dụng rượu, bia và không sử dụng chất kích thích khác.

Qua công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện giao thông và kết hợp với lời khai của Giàng A P, có đủ căn cứ xác định: Giàng A P điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình, lùi xe không chú ý quan sát phía sau và không đảm bảo an toàn, đã vi phạm quy tắc giao thông quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ năm 2008:

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình... ”.

Khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ quy định: “1. Khi lùi xe, người điều khiển phải quan sát phía sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm mới được lùi”.

Tại Bản kết luận pháp y về tử thi số 12 ngày 12/4/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Lai Châu xác định nguyên nhân chết của ông Lò Thanh H kết luận: “1. Các kết quả chính: Vùng hạ vị được băng bằng 01 dải băng trắng dính nhiều dịch màu đỏ máu. Bóc dải băng dính thấy có đám bầm tím, tụ máu kích thước 5,5cm x 1cm, 01 vế thương thủng dạng chột, bờ mép thủng nham nhở, qua vết thủng có tổ chức mỡ, máu kích thước vết thủng 2,5cm x 2cm; Tổ chức cân cơ dưới da vùng ngực bên phải bầm tím tụ máu. Gãy cung bên xương sườn số 3,4,5,6,7 phải gây gãy bao; tổ chức cân cơ vùng hố chậu p hải, hố thắt lưng bên phải bầm tím, tụ máu. Vùng bẹn bên phải tổ chức cân cơ bầm tím tụ máu dập rách cơ đứt động, tĩnh mạch bẹn bên phải. Vỡ gãy xương mu. Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp/Đa chấn thương; Kết luận khác: Cơ chế chết: Vết thương vùng bẹn bên phải, đứt động, tĩnh mạch bẹn bên phải, rách cơ dẫn đến sốc mất máu trụy tuần hoàn và suy hô hấp cấp dẫn đến tử vong; Thời gian chết tính đến thời điểm khám nghiệm là 4 đến 6 giờ; Các dấu vết thương tích: Đã mô tả ở phần phương pháp, giám định, kết quả”.

Tại bản kết luận giám định ADN số: 221/23/KLGDADN-PYQG ngày 11/4/2023 của Viện pháp y quốc gia kết luận: “ADN thu từ chất dịch màu đỏ có lẫn đất đá nghi là máu thu giữ tại mặt lốp của lốp ngoài cùng bên trái dàn lốp giữa (Giàn lốp thứ hai) của xe ô tô BKS: 27C-00159 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Lò Thanh H trên tất cả các locus STR đã phân tích”.

+ Tại bản kết luận giám định độc chất số: 213/282/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 11/4/2023 của Viện pháp y quốc gia kết luận: “Mẫu máu: Có tìm thấy Ethanol trong máu với hàm lượng 180,28mg/100ml”.

Vật chứng do Giàng A P giao nộp: 01 bản sao có chứng thực giấy phép lái xe Hạng C số 940219037020 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Điện Biên cấp mang tên Giàng A P được lưu trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng do Hà Xuân Y giao nộp: Bản phô tô có chứng thực gồm đăng ký xe ô tô số 006298 của xe ô tô biển kiểm soát 27C-001.59; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của p hương tiện giao thông cơ giới đường bộ 4698077 biển đăng ký: 27C-001.59; 01 giấy biên nhận thuế chấp số 160 của ngân hàng BIDV được lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 110/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của TAND huyện T, tỉnh Lai Châu đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạmtội “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Giàng A P 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án.

Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/9/2023 bị cáo Giàng A P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm,bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo, chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng cáo đều đảm bảo đúng theo quy định tại các điều 331,332,333 BLTTHS.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất hành vi phạm tội, về nhân thân, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bị cáo phạmtội “Vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ” với mức án một (01)năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Giàng A P vắng mặt không có lý do chính đáng, sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng, không do trở ngại khách quan và không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 290; điểm c khoản 1 Điều 351 xét xử vắng mặt bị cáo; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 110/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Sau xét xử sơ thẩm bị cáo có đơn kháng cáo, đơn kháng cáo hợp lệ trong hạn luật định,nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về sự vắng mặt của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm,bị cáo đang bị áp dụng biện p háp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo vắng mặt tại địa phương,không báo cáo chính quyền nơi quản lý giám sát bị cáo là bị cáo đã vi phạmnghĩa vụ cam kết theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ báo cáo số 202/BC-UBND ngày 21/11/2023,của Ủy ban nhân xã M, Huyện M,tỉnh Điện Biên, Tòa án đã thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú bằng Quyết định bắt,tạm giam bị cáo số 06/2023/HSPT-QĐTG,ngày 27/11/2023. Ngày 07/12/2023,Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tcó công văn số 520/CV-CQĐT thông báo Công an huyện T xác minh bị cáo hiện tại không có mặt ở nơi cư trú. Tòa án đã triệu tập bị cáo hợp lệ, nhưng bị cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không có lý do chính đáng.Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo tại p hiên tòa p húc thẩm là không vì lý do bất khả kháng, không do do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trởngại cho việc xét xử vụ án của Hội đồng xét xử p húc thẩm,nên Hội đồng xét xử phúc thẩmcăn cứ điểm d khoản 2 điều 290; điểm c khoản 1 điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 290; điểm c khoản 1 điều 351 xét xử vắng mặt bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình điều tra, truy tố, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Giàng A P là người có giấy p hép lái xe ô tô (hạng C) theo quy định. Khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 03/4/2023,Giàng A P điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI,số loại xe tải ben, màu sơn trắng, biển kiểm soát 27C thamgia giao thông đường bộ theo hướng xã N đi xã N, huyện T , tỉnh Lai Châu.Khi đi đến Km 10+150m Tỉnh lộ 133 thuộc địa phận bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu, P không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ năm 2008 khi tham gia giao thông đường bộ nên đã điều khiển xe ô tô không đi đúng phần đường quy định và lùi xe không chú ý quan sát phía sau và không đảm bảo an toàn nên đã đâmvào xe mô tô biển kiểm soát 25U do ông Lò Thanh H điều khiển đi cùng chiều. Hậu quả: Ông Lò Thanh H chết do sốc mất máu cấp, đa chấn thương dẫn đến tử vong. Giàng A P phạmtội với lỗi vô ý do cẩu thả. Bị cáo Giàng A P là người có đủ năng lực chịu trách nhiệmhình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo Giàng A P là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạmđến tính mạng của người khác, xâm phạmtrật tự, an toàn giao thông, trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. TAND huyện T xét xử bị cáo về tội “Vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; đã xem xét đầy đủ về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để xử p hạt bị cáo 01 (một) năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét nội dung xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Ngày 27/9/2023 bị cáo nộp đơn kháng cáo,tuy nhiên kèm theo đơn kháng cáo bị cáo không xuất trình, cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì chứng minh tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo tại giai đoạn phúc thẩm. Vì vậy,Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giàng A P. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 điều 355, điều 356 Bộ luật hình sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là có căn cứ, cần chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Giàng A P không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giàng A P giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 110 /2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T,tỉnh Lai Châu,như sau:

1. Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạmtội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A P 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 2 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp,quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Giàng A P phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 110 /2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩmcó hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ