- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-PT Ngày 16/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Mai Hoa và bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 179/2022/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Trần Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn Đ, sinh năm 1983 tại Hải Dương; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị T; vợ là Nguyễn Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1936 (đã chết);
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Bà Vũ Thị K, sinh năm 1942; anh Phạm Văn Th, sinh năm 1963; chị Phạm Thị D, sinh năm 1970; Đều cư trú tại: Thôn 3, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Phạm Thị Th2, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Phạm Thị Th3, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của bà K, anh Th, chị D, chị Th1, chị Th2: Ông Phạm Tiến L, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn 3, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Đ có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Chiều tối ngày 21/4/2022, Đ điều khiển xe mô tô BKS 34P1-007.30 chở phía sau cháu Trần Khánh L1, sinh năm 2006 (là con gái của Đ) đi từ nhà đến cây xăng dầu Cầu Ghẽ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng để đổ xăng. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe môtô đi ngược chiều ở làn đường dành cho xe thô sơ và mô tô trên Quốc lộ 5, chiều đường Hải Phòng - Hà Nội để đi vào đường gom hướng về ngã tư Ghẽ, xã Tân Trường. Khi đi đến Km 40+00, khu vực gần lối rẽ vào ngõ xóm Mới, thôn Tràng Kỹ, xã Tân Trường, Đ quan sát thấy phía trước có xe đạp điện do ông Phạm Văn H1, sinh năm 1936, ở thôn 3, xã Định Sơn, huyện Cẩm Giàng điều khiển đi cùng chiều, Đ điều khiển xe môtô vượt bên trái xe đạp điện của ông H1 (không có tín hiệu vượt). Lúc này, ông H1 cũng điều khiển xe đạp điện chuyển hướng rẽ trái để đi vào đường ngõ xóm Mới, thôn Tràng Kỹ, xã Tân Trường nên phần đầu xe môtô của Đ đã va chạm với phần càng bên trái bánh trước xe đạp điện của ông H1, làm xe môtô và xe đạp điện bị đổ rê trên đường, ông H1, Đ và cháu L1 bị ngã trên đường. Hậu quả, ông H1 bị thương được Đ đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Cẩm Giàng và bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đến 23 giờ 45 phút cùng ngày, ông H1 chết tại nhà.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 125/GĐPY ngày 29/4/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương đã kết luận: "1. Dấu hiệu chính qua giám định: Đồng tử hai mắt giãn rộng, kết mạc nhợt, tai trái có máu chảy ra. Sây xát da, bầm tụ máu vùng giữa chẩm và chẩm trái. Xương sọ tại vị trí tương ứng đám sây sát da, bầm tụ máu phía ngoài vỡ phức tạp. Tổn thương mềm rải rác. 2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ). 3. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương nặng nhất gây tử vong của ông Phạm Văn H1 là Chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ). Tổn thương do vật tày gây nên là phù hợp".
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hải Dương đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/11/2022 bị cáo Trần Văn Đ kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự và áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, bị hại có một phần lỗi, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ. Sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Lời khai của bị cáo Trần Văn Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, kết luận giám định pháp y, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trần Văn Đ có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/4/2022, tại đường gom Km 40+00, Quốc lộ 5, thuộc địa phận xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Trần Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS 34P1-007.30 chở phía sau cháu Trần Khánh L1 đi ngược chiều ở làn đường dành cho xe thô sơ và môtô chiều đường Hải Phòng - Hà Nội đi vào đường gom đi thẳng về phía ngã tư Ghẽ, bị cáo đã quan sát thấy xe đạp điện do ông Phạm Văn H1 điều khiển phía trước nhưng chủ quan nghĩ ông Hoà đi thẳng nên không bấm đèn, còi để xin vượt và giữ nguyên tốc độ vượt bên trái xe của ông H1, dẫn đến va chạm giữa phần đầu xe môtô của Đ và càng xe bên trái bánh trước xe đạp điện của ông H1 đang chuyển hướng rẽ trái. Hậu quả ông H1 bị thương được đưa đi cấp cứu và chết cùng ngày. Hành vi của bị cáo Trần Văn Đ đã vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 và khoản 2 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo Trần Văn Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo Đ không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ xin được hưởng án treo thì thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị hại có một phần lỗi theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo là đúng quy định. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông cũng do bị hại có một phần lỗi là điều khiển xe đạp điện chuyển hướng rẽ trái đột ngột, không chú ý quan sát, không báo tín hiệu để rẽ dẫn đến xảy ra va chạm giữa xe đạp điện của bị hại và xe mô tô của bị cáo. Xét bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới và đại diện bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Đ.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 16/01/2023.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - Cơ quan CSĐT, HSNV, THAHS - Công an huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chất |