- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BALH: N_Đ"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Đoàn Thanh N và bà Châu Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày 01 - 02 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Rồng
2. Ông Sơn Hoài Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đèo –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 521/2022/TLST–HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Đoàn Thanh N, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: ấp 19, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
- Bị đơn: bà Châu Ngọc Đ, sinh năm 1982; NKTT: ấp 19, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; chổ ở hiện nay: ấp 3A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn trình bày:
+ Quan hệ hôn nhân: ông và bà Đ sống chung với nhau từ năm 2000 và có đăng ký kết hôn. Hai người đã ly thân tháng 06 năm 2020 cho đến nay, lý do: bản thân ông đi làm kiếm tiền nuôi vợ con, còn bà Đ không đi làm, mà chỉ đi nhậu, khi ông nói đến thì bà Đ xúc phạm ông. Nay ông yêu cầu ly hôn với bà Đ.
+ Việc nuôi con: ông và bà Đ có 03 người con chung gồm:
1. Đoàn Non S, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2001, hiện đã thành niên nên ông không yêu cầu;
2. Đoàn Song X, sinh ngày 01 tháng 8 năm 2003, hiện đã thành niên nên ông không yêu cầu;
3. Đoàn Gia B, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2010, hiện đang sống chung với ông, ông yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.
+ Chia tài sản: hai người có tài sản chung là căn nhà, ông N yêu cầu tự thoả thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Châu Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không thể tiến hành lấy lời khai được.
- Kiểm sát viên phát biểu:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không có mặt theo giấy triệu của Tòa án, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải là không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Thanh N xin ly hôn với bà Châu Thị Đ.
+ Về quan hệ con: Đối với Đoàn Non S và Đoàn Song X đã thành niên nên không đặt ra xem xét; giao con chung Đoàn Gia B cho ông N tiếp tục nuôi dưỡng và tạm miễn việc cấp dưỡng.
+ Chia tài sản: do tự thoả thuận nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên việc xét xử vắng mặt của họ là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan hệ hôn nhân: do bà Đ đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không thể tiến hành lấy lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của ông N để giải quyết theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà Đ là hôn nhân hợp pháp. Thông qua lời khai của ông N đã chứng minh được ông và bà Đ ly thân từ tháng 06 năm 2020 cho đến nay, với những lý do mà ông N đưa ra. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của ông Đoan Thanh Non được ly hôn với bà Châu Thị Đ.
Việc nuôi con:
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
- Cháu Đoàn Gia B sống với ông N từ khi ly thân cho đến nay và đang phát triển bình thường, cháu có nguyện vọng tiếp tục sống chung với ông nên việc giao cho ông N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Về cấp dưỡng: ông Đoàn Thanh N không yêu cầu (mặc dù đã được giải thích) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với Đoàn Non S và Đoàn Song X đã thành niên và ông N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Chia tài sản: ông Đoàn Thanh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí:
- Ông Đoàn Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0004581 ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G.
- Bà Châu Thị Đ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 147, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Đoàn Thanh N và bà Châu Thị Đ.
2. Việc nuôi con:
- Giao cháu Đoàn Gia B, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2010 cho ông Đoàn Thanh N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Về cấp dưỡng: ông Đoàn Thanh N không yêu cầu (mặc dù đã được giải thích) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Chia tài sản: ông Đoàn Thanh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí:
- Ông Đoàn Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0004581 ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G.
- Bà Châu Thị Đ không phải chịu án phí.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ quan thực hiện đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Minh Tấn |