- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xử ly hôn giữa chị Đậu Thị H và anh Phạm Văn D."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đậu Thị H và anh Phạm Văn D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 02 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Định, bà Trịnh Thị Hồng Thắm.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.
Ngày 03/02/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 250/2022/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/01/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đậu Thị H, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn V, xã B, huyện Y, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Thôn V, xã B, huyện Y, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Vắng mặt chị H, anh D (chị H có đề nghị giải quyết vắng mặt, anh D vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Đậu Thị H trình bày: Chị và Phạm Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Nam Định ngày 05/3/2010. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì từ khoảng tháng 10/2019 giữa chị và anh D phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh D nhiều lần đánh chửi xúc phạm danh dự chị, hai bên không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm dẫn đến đời sống chung căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị và anh D hiện đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay. Chị xác định tình cảm giữa chị và anh D không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị giữ nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn D.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 10/5/2011 và Phạm Văn L, sinh ngày 16/01/2013. Chị có nguyện vọng nhường quyền nuôi dưỡng cả hai con chung cho anh D nuôi dưỡng, không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 30/12/2022 anh D cho biết: Anh và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Yên Bình, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ngày 05/3/2010. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì gần đây từ khoảng tháng 8/2020, chị H chủ động bỏ đi không về chung sống cùng anh nữa, nguyên nhân là do anh phát hiện chị H có tình cảm với người khác. Mặc dù anh vẫn bình thường, anh tha thứ cho chị H nhưng chị H bỏ đi không về chung sống cùng anh nữa. Anh và chị H sống ly thân nhau khoảng hơn hai năm nay, chấm dứt quan hệ tình cảm. Mặc dù chị H có nhiều lỗi lầm nhưng anh vẫn bỏ qua để cho chị H về đoàn tụ cùng gia đình, cùng anh nuôi dậy con chung. Do vậy, anh không đồng ý ly hôn với chị H. Trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 10/5/2011 và Phạm Văn L, sinh ngày 16/01/2013 hiện nay cả hai con chung đang ở cùng anh. Anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung anh để chị H tự nguyện tùy điều kiện của chị H còn anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác liên quan trong quan hệ hôn nhân: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Trong đơn trình bày nguyện vọng của cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 10/5/2011 và Phạm Văn L, sinh ngày 16/01/2013 trình bày nguyện vọng xin được ở cùng bố là anh Phạm Văn D.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại buổi làm việc, chị H có mặt, anh D vắng mặt. Chị H có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, chứng khai chứng cứ cho anh D theo quy định tại khoản 3 Điều 210 và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa:
Chị H xin giải quyết vắng mặt. Anh D mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn của chị H đề nghị xét xử vắng mặt. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án chị H có đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh D mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Hôn nhân giữa chị Đậu Thị H và anh Phạm Văn D là hợp pháp. Qua các chứng cứ thu thập được thể hiện cuộc sống của anh chị có nhiều mâu thuẫn, anh chị cũng không có giải pháp nào để cải thiện. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên kiên quyết xin ly hôn với anh D. Về phía anh D, mặc dù không muốn ly hôn, muốn được đoàn tụ nhưng khi đã được Toà án triệu tập để tham gia tố tụng, thông báo để hoà giải cho anh chị nhưng anh D lại vắng mặt. Điều đó chứng tỏ anh không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị H nữa. Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn của chị H, xử cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh D 02 con chung là cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 10/5/2011 và Phạm Văn L, sinh ngày 16/01/2013 hiện nay cả hai con chung đang ở cùng anh D tại xã Yên Bình, huyện Ý Yên. Việc chăm sóc, nuôi dạy con chung chưa thành niên là trách nhiệm, nghĩa vụ, là quyền lợi của cha mẹ. Xét thấy, anh D và chị H thống nhất việc để anh D là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, hơn nữa nguyện vọng của các cháu cũng mong muốn được ở cùng với anh D. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục giao L, cháu L cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng để các cháu phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần. Chấp nhận sự tự nguyện của anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D không yêu cầu giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đậu Thị H và anh Phạm Văn D.
2. Về con chung: Giao cả hai con chung cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 10/5/2011 và Phạm Văn L, sinh ngày 16/01/2013 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Đậu Thị H phải nộp là 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003834, ngày 19/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, chị H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Đậu Thị H và anh Phạm Văn D được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh+Huyện; - Chi cục Thi hành án dân sự; - Các đương sự; - UBND xã B; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Văn Anh |