- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kiều T- Nguyễn Văn K: Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn K được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09-01-2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Duyên
2. Ông Nguyễn Minh Cưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 392/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2022/QĐXX-ST ngày 02 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kiều T, sinh năm 1994, có đơn xin vắng mặt
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1990, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp 4, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13/10/2022 và đơn xin vắng mặt ngày 01/12/2022, chị Trần Thị Kiều T trình bày:
Về hôn nhân: Chị T và anh K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/02/2021. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân khoảng 04 tháng nay. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh K.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia P, sinh ngày 12/01/2022. Hiện anh K đang nuôi dạy. Khi ly hôn chị T tự nguyện giao con chung cho anh K tiếp tục nuôi dạy, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án chị T có đơn xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Trần Thị Kiều T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn K. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh K có địa chỉ tại ấp 4, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh K nhưng anh K vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh K theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 01/12/2022, chị T có đơn yêu cầu xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 07/11/2022, ông Nguyễn Văn Tài là cha ruột anh K có nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến không có ngày tháng năm và đơn xin gia hạn ngày 03/11/2022 của anh K nhưng là bản photo.
Nội dung thể hiện anh K và chị T chung sống với nhau gần 02 năm, cuộc sống vợ chồng diễn ra bình thường và sinh được 01 con chung là Nguyễn Gia P. Sau đó, anh K đi làm tại tỉnh Bình Dương, còn chị T về nhà cha mẹ ruột sống. Khi đó, chị T rút tiền thai sản được 38 triệu đồng cho em vợ mượn. Ngoài ra, chị T nói với anh bị lừa hết 14 chỉ vàng 24k, 12 chỉ vàng 18k. Từ đó, vợ chồng mâu thuẫn, chị T đòi ly hôn và ra ở riêng. Do đang làm thuê không xin nghỉ được nên anh yêu cầu Tòa án cho anh gia hạn đến gần tết âm lịch sẽ đến Tòa án để giải quyết vụ việc yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh. Về con chung: Anh yêu cầu được nuôi cháu Phúc.
Tuy nhiên, do đây là bản photo và không phải do anh K trực tiếp nộp cho Tòa án, không xác định được có phải chữ ký và ý kiến của anh K không nên Hội đồng xét xử không chấp nhận các văn bản này.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/02/2021. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án chị T yêu cầu ly hôn với anh K. Xét thấy, yêu cầu của chị T là có cơ sở. Bởi vì, thời gian chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, hiện tại đã sống ly thân khoảng 04 tháng nay. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh K vắng mặt tại lần hòa giải không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Trần Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn K được ly hôn.
Về con chung: Thời gian chung sống, anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Gia P, sinh ngày 12/01/2022 (giới tính nam), đang do anh K nuôi dạy, chị T thống nhất giao cho anh K tiếp tục nuôi dạy cháu P. Xét thấy, yêu cầu của chị T là có cơ sở. Bởi vì, cháu P đang do anh K nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Mặt khác, anh K cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Phúc cho anh K nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị T không cấp dưỡng nuôi con, anh K cũng không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị T xác định để chị và anh K tự thỏa thuận. Nợ chung là không có, không ai yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị Trần Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn K được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày 12/01/2022 (giới tính nam) cho anh K tiếp tục nuôi dạy. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Kiều T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 18 tháng 10 năm 2022 chị T có nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0003056 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị T, anh K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã Trí Phải; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bảo Trâm |