- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn bà Năng Thị Ngọc Q. Bà Năng Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Quảng Ngọc M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TINH NINH THUẬN Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 02 - 2023 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Huyền Trang;
Ông Lê Quang Chính.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Nhân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2022/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 12/01/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Năng Thị Ngọc Q, sinh năm 1992 (có mặt).
Bị đơn: Ông Quảng Ngọc M, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Năng Thị Ngọc Q trình bày:
Về hôn nhân: Bà với ông Quảng Ngọc M tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2017. Có đến UBND xã P làm thủ tục đăng ký kết hôn vào năm 2017.
Qúa trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân ông Quảng Ngọc M sống chỉ biết bản thân, không quan tâm đến vợ con, mọi việc trong gia đình chỉ để một mình bà gác vác, ông Quảng Ngọc M không phụ giúp bà, khi bà nói thì giữa bà với Quảng Ngọc M xảy ra cải nhau, ông Quảng Ngọc M tự ý bỏ gia đình ra đi từ năm 2021 cho đến nay, không một lời gọi điện hỏi thăm vợ con, cũng không quay về thăm con. Từ đó bà với ông Quảng Ngọc M sống ly thân không quan tâm đến nhau.
Nay bà thấy không còn tình cảm với ông Quảng Ngọc M, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Quảng Ngọc M.
Hiện tại bà đang làm thợ uốc tóc tại nhà, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 5.000.000đ-6.000.000đ.
Về con chung: Bà với ông Quảng Ngọc M sống với nhau có 01 con chung tên Quảng Thành Đ, sinh ngày 15-11-2019, hiện con chung đang sống với bà, nếu ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Quảng Ngọc M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn ông Quảng Ngọc M vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng:
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Năng Thị Ngọc Q. Cho bà Năng Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Quảng Ngọc M, giao con chung tên Quảng Thành Đ, sinh ngày 15-11-2019 cho bà Năng Thị Ngọc Q trực tiếp nuôi dưỡng, ông Quảng Ngọc M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Buộc bà Năng Thị Ngọc Q phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N.
. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay ông Quảng Ngọc M vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông Quảng Ngọc M.
. Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa xác định được bà Năng Thị Ngọc Q và ông Quảng Ngọc M kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N theo giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 04-4-2017. Do đó, hôn nhân giữa bà Năng Thị Ngọc Q và ông Quảng Ngọc M là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Năng Thị Ngọc Q vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Quảng Ngọc M, vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gay gắt, trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm nhau từ năm 2021 đến nay, tình cảm vợ chồng đã hết. Vì vậy, bà yêu cầu được ly hôn với ông Quảng Ngọc M. Đối với bị đơn ông Quảng Ngọc M mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ, các văn bản tố tụng nhiều lần theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình không đến. Bị đơn ông Quảng Ngọc M vắng mặt xem như từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chứng tỏ yêu cầu khởi kiện ly hôn và lời khai của bà Năng Thị Ngọc Q là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Năng Thị Ngọc Q và ông Quảng Ngọc M đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết, hiện đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Năng Thị Ngọc Q là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Bà Năng Thị Ngọc Q trình bày bà với ông Quảng Ngọc M sống với nhau có 01 con chung tên Quảng Thành Đ, sinh ngày 15-11-2019, hiện con chung đang sống với bà Năng Thị Ngọc Q. Bà Năng Thị Ngọc Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét về yêu cầu trực tiếp nuôi con của bà Năng Thị Ngọc Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Năng Thị Ngọc Q là người trực tiếp chăm sóc con chung từ khi bà Năng Thị Ngọc Q với ông Quảng Ngọc M sống ly thân chu đáo, con chung phát triển bình thường, vì vậy nên giao con chung tên Quảng Thành Đ, sinh ngày 15-11-2019 cho bà Năng Thị Ngọc Q được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Quảng Ngọc M không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Năng Thị Ngọc Q không yêu cầu, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
. Về tài sản, nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Năng Thị Ngọc Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn bà Năng Thị Ngọc Q. Bà Năng Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Quảng Ngọc M.
2. Về con chung: Giao con chung Quảng Thành Đ, sinh ngày 15-11-2019 cho bà Năng Thị Ngọc Q là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. (Hiện con chung đang sống với bà Năng Thị Ngọc Q).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Năng Thị Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án bà Năng Thị Ngọc Q đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002793 ngày 02-11-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Năng Thị Ngọc Q đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - UBND xã P, N; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Ngọc Minh Lê Quang Chính | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Bình THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Bình |