vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H1. Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Hải - Nguyễn Ngọc Hiếu"
  • Tòa quyết gì? Xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LS
TỈNH HÒA BÌNH
________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 4 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LS, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trường Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ánh Hồng;

Bà Hoàng Thị Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LS tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị

Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 04 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện LS, tỉnh Hòa Bình xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2022/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 12

năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số: 05/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 03 năm 2023 giữa các đương

sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H; sinh năm 1997; trú tại: Thôn ĐS, xã TC, huyện

LS, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Hiếu; sinh năm 1988; trú tại: Thôn ĐS, xã TC,

huyện LS, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất

trình nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

Chị H và anh Nguyễn Ngọc Hiếu kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết

hôn ngày 02/12/2015 tại UBND xã CT (nay là xã TC), huyện LS, tỉnh Hòa Bình.

Sau kết hôn vợ chồng ở cùng gia đình nhà chồng và có 02 con chung là Nguyễn Thị Kim O và Nguyễn Anh Th. Khoảng tháng 9/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị H đi làm ở Hải Dương phải xa nhà, 02 con chung phải gửi bố mẹ anh H1 chăm sóc. Do vợ chồng không thống nhất được nơi ở chung và việc trông nom, chăm sóc con chung, chị H đã đưa hai con đến nơi làm việc, thuê chỗ ở và lo cho 02 con chung đi học, song anh H1 gây áp lực, đưa 02 con chung về để bố mẹ anh H1 chăm sóc. Chị H thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, cuộc sống chung không thể kéo dài do vậy đề nghị được ly hôn anh H1.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 11/05/2017

và Nguyễn Anh Th; sinh ngày 30/01/2020. Khi ly hôn chị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, chưa yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có và không đề nghị Tòa án giải

quyết.

Kết quả xác minh tại địa phương: Hiện nay anh H1 vẫn cư trú tại thôn ĐS, xã

TC, huyện LS, tỉnh Hòa Bình, địa phương đã nhiều lần thực hiện việc cấp tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H1 nhưng anh H1 không đến Tòa án làm việc.

Tại phiên tòa:

Chị Bùi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, có nội dung đề nghị được ly hôn

anh H1; về con chung đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Anh Th, anh H1 trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thị Kim O và chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LS, tỉnh Hòa Bình sau khi tóm tắt,

phân tích vụ án trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81,

82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H:

Xử: Cho chị Bùi Thi H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H1. Giao cháu

Nguyễn Anh Tú cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Thị Kim Oanh cho anh Nguyễn Ngọc H1 nuôi dưỡng, chưa bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H và anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng theo quy định. Chị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát

viên Tòa nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Bùi Thị H và bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1 cư trú tại thôn Đa

Sỹ, xã Thanh Cao, huyện LS, tỉnh Hòa Bình, do đó việc Tòa án nhân dân huyện

LS thụ lý đơn khởi kiện vụ án xin ly hôn của chị H với anh H1 là đúng thẩm quyền

theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục, việc

tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ,

đúng thời hạn, đảm bảo người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ

của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Bùi Thị H thực

hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự; anh Nguyễn Ngọc H1 đã cố tình vắng mặt tại các buổi làm

việc cũng như tại phiên tòa. Tòa án đã tống đạt, niêm yết giấy triệu tập hợp lệ đến

lần thứ hai mà anh H1 vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Chị Bùi

Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b Khoản 2 điều 227 Bộ luật tố

tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Ngọc H1 và

chị Bùi Thị H.

Về yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc H1:

Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng

ký kết hôn tại UBND xã Cao Thắng, nay là xã Thanh Cao, huyện LS, tỉnh Hòa

Bình, việc kết hôn giữa chị H và anh H1 là phù hợp với quy định của pháp luật về

Hôn nhân và gia đình.

Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung, đến năm

2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn phát sinh từ việc do

chị H phải làm xa, chị H, anh H1 không thống nhất được việc chăm sóc con chung

cũng như nơi cư trú chung của vợ chồng, dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn,

thiếu tôn trọng lẫn nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống

chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của chị H ly hôn anh H1 là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản

1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc

H1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 11/05/2017 và Nguyễn

Anh Th; sinh ngày 30/01/2020.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy, căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của Cháu

Nguyễn Thị Kim O và cháu Nguyễn Anh Th thấy, để ổn định việc học tập, cũng

như tâm lý của cháu O, sau khi bố mẹ ly hôn, nên giao cháu O cho anh H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Cháu Nguyễn Anh Th còn nhỏ (39 tháng tuổi) nên giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp

nuôi con chung, song chưa Chị H, anh H1 chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, do vậy sẽ giải quyết khi chị H, anh H1 có yêu cầu.

Chị H, anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được

cản trở.

. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có và không đề nghị Tòa án

giải quyết nên không đề cập.

. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chị Bùi Thi H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H, cụ thể:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H1.

- Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Anh Th; sinh ngày 30/01/2020; anh Nguyễn Ngọc H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 11/05/2017.

Chị Bùi Thị H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con

chung mà không ai được cản trở.

Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi

con chung và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn)

án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn) tiền tạm ứng án phí

đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005381 ngày

13/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện LS, tỉnh Hòa Bình

4. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H, anh Nguyễn Ngọc H1 có quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm

yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ