vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Võ Thị Bé H đối với ông Nguyễn Dương Kh.

Bà Võ Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Dương Kh. Về con chung: Bà Võ Thị Bé H được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh ngày 27/7/2021, hiện con chung đang sống với bà H. Ông Nguyễn Dương Kh được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 15/10/2015, hi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Bé H ly hôn Nguyễn Dương Kh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Võ Thị Bé H đối với ông Nguyễn Dương Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05-01-2023
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Văn Hùng;

2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1040/2022/TLST-HNGĐ ngày 31/10/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 370/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 341/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bé H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Dương Kh, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà H có đơn đề nghị vắng mặt, ông Kh vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2022, nguyên đơn bà Võ Thị Bé H trình bày: Bà H và ông Kh chung sống vợ chồng từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 01/02/2016. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 07 năm, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường gây gỗ, cãi nhau, tình cảm rạn nứt, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H khởi kiện yêu cầu:

Về tình cảm: Bà Võ Thị Bé H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Dương Kh.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 15/10/2015 và Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh ngày 27/7/2021, cháu T1 hiện đang sống với bà H, cháu T đang sống cùng ông Kh. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T1, đồng ý giao cháu T cho ông Kh tiếp tục nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Dương Kh vắng mặt trong quá trình thụ lý giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Nguyễn Dương Kh theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Kh biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà H nhưng ông Kh không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Dương Kh vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi kiện của bà H và xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà H bận đi làm nên có đơn đề nghị xử vắng mặt. Tòa án quyết định xử vắng mặt nguyên đơn quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Võ Thị Bé H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Dương Kh, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nơi bị đơn cư trú thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của các đương sự trong vụ án: Bà Võ Thị Bé H bận đi làm xa nên có đơn đề nghị xử vắng mặt; ông Nguyễn Dương Kh vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo qui định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung vụ án:

. Về tình cảm: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông Kh có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 01/02/2016 nên hôn nhân giữa bà H với ông Kh là hợp pháp theo qui định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông Kh: Bà H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm nên hay gây cãi, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà H thấy tình nghĩa vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Tòa án đã tiến hành tống đạt mời ông Nguyễn Dương Kh, ông Kh biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà H nhưng ông Kh không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải cho thấy ông Kh không có thiện chí hàn gắn. Từ đó, Hội đồng xét xử xét hôn nhân giữa bà H với ông Kh đã mâu thuẫn trầm trọng nên bà H yêu cầu xin ly hôn với ông Kh là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về con chung: Bà H trình bày giữa bà H với ông Kh có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 15/10/2015 và Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh ngày 27/7/2021, cháu T1 hiện đang sống với bà H, cháu T đang sống cùng ông Kh. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T1, đồng ý giao cháu T cho ông Kh tiếp tục nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét cháu Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh ngày 27/7/2021 đang sống chung ổn định với bà H và chưa đủ 36 tháng tuổi; cháu Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 15/10/2015 đang sống chung ổn định cùng ông Kh và có nguyện vọng được sống cùng với ông Kh. Do đó, Hôi đồng xét xử thấy bà H yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T1, đồng ý giao cháu T cho ông Kh tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà H nuôi cháu T1, ông Kh nuôi cháu T nên không yêu cầu ông Kh cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện và phù hợp với các Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày thống nhất không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Nguyễn Dương Kh vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến về tình cảm, con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết. Nếu sau này, giữa bà H và ông Kh có phát sinh tranh chấp về con chung, cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung thì các bên đựợc quyền khởi kiện để giải quyết trong một vụ án khác.

.Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thuờng Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

Buộc nguyên đơn bà Võ Thị Bé H phải chịu án phí ly hôn sung ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Điều 107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Võ Thị Bé H đối với ông Nguyễn Dương Kh.

Bà Võ Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Dương Kh.

2. Về con chung: Bà Võ Thị Bé H được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh ngày 27/7/2021, hiện con chung đang sống với bà H. Ông Nguyễn Dương Kh được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 15/10/2015, hiện con chung đang sống với ông Kh.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Kh không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà H không yêu cầu.

4. Về quyền chăm sóc con chung: Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

5. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Bé H trình bày không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí: Bà Võ Thị Bé H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số 0007124 ngày 31/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành. Bà Võ Thị Bé H đã nộp xong.

7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.

Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ