- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ngọc H - Vi Văn B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Vi Văn B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày 05-5-2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Chí Thiện
Ông Nông Văn Thắng
- Thư ký phiên toà: Ông Lý Minh Quang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 50/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023, thông báo về việc chuyển ngày xét xử vụ án hôn nhân gia đình số 60/TB-TA ngày 22 tháng 3 năm 2023, thông báo về việc chuyển ngày xét xử vụ án hôn nhân gia đình số 76/TB-TA ngày 31 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1989; địa chỉ: Phố T, thị trấn V, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Vi Văn B, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Vi Văn B kết hôn từ năm 2013 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn và tổ chức cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn thời gian đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc, hai vợ chồng luôn thương yêu nhau. Tuy nhiên, cuộc sống chung hạnh phúc chỉ kéo dài đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, giữa hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Bên cạnh đó anh Vi Văn B thường xuyên uống rượu không chăm lo cho gia đình. Từ tháng 4 năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vi Văn B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Vi Quang N, sinh ngày 09/11/2013, hiện nay đang sống với chị Lê Thị Ngọc H. Khi ly hôn chị Lê Thị Ngọc H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Vi Văn B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Vi Văn B trong quá trình giải quyết vụ án không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã chấp hành theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, tiến hành lập hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyền hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định. Hội đồng xét xử đảm bảo đúng thành phần, tuân thủ nguyên tắc xét xử, trình tự, thủ tục phiên tòa. Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ về thủ tục phiên tòa, ghi chép diễn biến phiên tòa theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành giấy triệu tập của Tòa án dẫn đến việc Tòa án phải thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc H.
Về con chung: Giao cháu Vi Quang N, sinh ngày 09/11/2013 cho chị Lê Thị Ngọc H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Vi Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị Ngọc H không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không đề cập xem xét.
Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của nguyên đơn căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, yêu cầu nuôi con chung vì vậy xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo và triệu tập các đương sự yêu cầu viết bản tự khai và lấy lời khai đương sự theo quy định, yêu cầu các đương sự cung cấp tài liệu chứng cứ và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, để đảm bảo quyền lợi cho đương sự Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn vẫn không hợp tác để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Đây là phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Ngọc H và anh Vi Văn B là hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Mặt khác, anh Vi Văn B thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình, chính vì vậy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ tháng 4 năm 2021 hai vợ chồng đã sống ly thân đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Qua xác minh tại nơi cư trú của hai vợ chồng xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của hai vợ chồng là do hai vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa nhà nên không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Lê Thị Ngọc H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ngọc H đưa ra là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Vi Văn B có một con chung là Vi Quang N, sinh ngày 09/11/2013. Khi ly hôn chị Lê Thị Ngọc H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Vi Văn B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị Lê Thị Ngọc H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Quang N, cháu Vi Quang N hiện nay đang sinh sống và học tập tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nguồn thu nhập của chị Lê Thị Ngọc H đảm bảo cho việc nuôi dạy cháu Vi Quang N. Do vậy để đảm bảo lợi ích về mọi mặt cho sự phát triển của cháu Vi Quang N, xét thấy cần giao cháu Vi Quang N cho chị Lê Thị Ngọc H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Vi Quang N.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Ngọc H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Vi Văn B.
2. Về con chung: Giao cháu Vi Quang N, sinh ngày 09/11/2013 cho chị Lê Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Vi Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước. Số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lê Thị Ngọc H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0003716 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Vi Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; - CC THADS huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Duy |