vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T đối với chị Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển 2007 ngày 20 tháng 7 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Toàn - Nguyễn Thị Thương"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T đối với chị Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-4-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Lập

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Vĩnh

Ông Cao Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 29/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; Nơi cư trú: số nhà 85, đường Nguyễn Văn Cừ, tổ dân phố 5, thị trấn Đạ M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: số nhà 85, đường Nguyễn Văn Cừ, tổ dân phố 5, thị trấn Đạ M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 14 tháng 3 năm 2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án anh Nguyễn Văn T trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T (anh T) và chị Nguyễn Thị T (chị T) tự nguyện tìm hiểu yêu T nhau, được hai bên gia đình cho phép tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An ngày 20/7/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì những năm gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, các mối quan hệ gia đình và xã hội. Mặc dù cả hai đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng gay gắt, không thể giải quyết được. Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng thực tế cả hai đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau, tình cảm giữa vợ chồng không còn nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị T.

- Về con chung: Quá trình chung sống giữa anh T và chị T có 02 (hai) con chung là các cháu Nguyễn Văn Khánh (cháu Khánh), sinh ngày 03/4/2008 và cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh (cháu Anh), sinh ngày 09/5/2014. Hiện các con còn nhỏ và đang sống với chị T. Ly hôn anh T đồng ý giao các con cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con cho đến khi các con thành niên.

- Về tài sản chung: Xác định không có tài sản chung, các bên không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Xác định không có nợ chung, nợ riêng bất kỳ ai, các bên không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị T trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T được hai bên gia đình cho phép tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An ngày 20/7/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì những năm gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, các mối quan hệ gia đình và xã hội. Mặc dù cả hai đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng gay gắt, không thể giải quyết được. Vợ chồng tuy sống chung nhưng thực tế cả hai không quan tâm gì đến nhau, tình cảm giữa vợ chồng không còn nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị T thì chị T cũng đồng ý ly hôn với anh T.

- Về con chung: Quá trình chung sống có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Văn Khánh (cháu Khánh), sinh ngày 03/4/2008 và cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh (cháu Anh), sinh ngày 09/5/2014. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con cho đến khi các con thành niên; không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Xác định không có tài sản chung, các bên không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Xác định không có nợ chung, nợ riêng bất kỳ ai, các bên không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án chị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, xét xử vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và đánh giá về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định pháp luật về tố tụng. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nguyên đơn, bị đơn đến Tòa tham gia phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin vắng mặt không đến Tòa tham gia tố tụng nên căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian chung sống anh T và chị T xảy ra nhiều mâu thuẫn, đến nay tình cảm giữa anh T và chị T không còn; anh T xin hôn thì chị T cũng đồng ý ly hôn với anh T. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T.

+ Về con chung: Giữa anh T và chị T có 02 con chung là cháu Khánh, sinh ngày 03/4/2008 và cháu Anh, sinh ngày 09/5/2014. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi các con nhưng không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì đây là trách nhiệm của cha, mẹ đối với các con. Còn anh T thì đồng ý giao các con cho chị T là người trực tiếp nuôi các con. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giao các con cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi ly hôn là phù hợp.

+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T yêu cầu được nuôi các con nhưng không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về tài sản chung: Anh T, chị T xác định không có tài sản chung, các bên không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về nợ chung: Anh T, chị T xác định không có nợ chung, các bên không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí: Anh T khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.

Về tố tụng.

Tòa án đã tiến hành triệu tập, thông báo hợp lệ cho nguyên đơn anh T; bị đơn chị T đến Tòa tham gia tố tụng nhưng anh T, chị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn theo quy định.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Anh T và chị T tự nguyện tìm hiểu yêu T nhau, được hai bên gia đình cho phép tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An ngày 20/7/2007, do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T được xác lập là hợp pháp. Quá trình chung sống do phát sinh mâu thuẫn anh T khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con với chị T. Chị T có nơi cư trú tại thị trấn Đạ M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng dân sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hôn nhân thì thấy rằng: Sau khi kết hôn anh T và chị T sống hạnh phúc và có 02 người con. Tuy nhiên, trong những năm gân đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, các mối quan hệ gia đình và xã hội. Mặc dù cả hai đã cố gắng để hàn gắn nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, không thể giải quyết được.

Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng thực tế cả hai đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau, tình cảm giữa vợ chồng không còn. Anh T yêu cầu được ly hôn thì chị T cũng đồng ý ly hôn với chị T. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị T là trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân căng thẳng không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị Thúy. Cho anh T được ly hôn với chị T là có cơ sở, phù hợp với thực tế.

Về con chung: Theo giấy khai sinh (bản sao) của Ủy ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thể hiện họ tên cháu Nguyễn Văn Khánh, sinh ngày 03/4/2008 và Theo giấy khai sinh (bản sao) của Ủy ban nhân dân thị trấn Đạ M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thể hiện họ tên cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, sinh ngày 09/5/2014; có họ tên người mẹ Nguyễn Thị T, họ tên người cha Nguyễn Văn T. Căn cứ khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình thì xác định các cháu Khánh và cháu Anh là con chung của anh T và chị T.

Xét yêu cầu nuôi con của chị T thì thấy rằng: Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi các con. Còn anh T thì đồng ý giao các con cho chị T là người trực tiếp nuôi các con. Mặt khác, theo nguyện vọng của các cháu Khánh và cháu Anh cũng mong muốn được ở với chị T. Do vậy, cần giao các con cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T yêu cầu được nuôi các con nhưng không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên không buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ.

Về tài sản chung: Anh T, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp.

Về nợ chung: Anh T, chị T xác định không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh T khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thuờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T đối với chị Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển 2007 ngày 20 tháng 7 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Khánh, sinh ngày 03/4/2008; và cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, sinh ngày 09/5/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đến tuổi thành niên. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011081 ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, anh Nguyễn Văn T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ