- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị H - Quách Văn D (ly hôn)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Triệu Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23/6/2023 “Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ma Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Thảo và bà Hoàng Thị Thào
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ưu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể tham gia phiên toà: Ông Nông Thiêm Mẫn và bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2023/TLST – HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2023 giữa:
* Nguyên đơn: Chị Triệu Thị H, Sinh năm 1998 – Trú tại: Thôn N, xã K, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Bị đơn: Anh Quách Văn Dg, Sinh năm 1998 – Trú tại: Thôn N, xã K, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2023 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Triệu Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị H và anh Quách Văn D kết hôn với nhau vào năm 2020, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện được tìm hiểu về nhau và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã N, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 23/3/2020. Sau khi kết hôn, khoảng cuối năm 2020 anh D đã chuyển nhân khẩu về thôn N, xã K, huyện Ba Bể và vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ của chị H. Trong quá trình chung sống vợ chồng không được hòa thuận, hạnh phúc, nguyên nhân là do anh D thường xuyên uống rượu, say rượu, đánh vợ, không chăm lo cho đời sống gia đình, không tập trung làm ăn, dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Đỉnh điểm vào giữa năm 2022 vợ chồng cãi chửi nhau, sau đó anh D và chị H đã sống ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay. Từ khi sống ly thân không ai có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn với anh Quách Văn D.
- Về con chung: Chị Triệu Thị H và anh Quách Văn D có 01 con chung là Quách Triệu Thùy D, sinh ngày 22/7/2020. Con khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị Hường yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hg không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Triệu Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Quách Văn D: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành lấy được bản tự khai, lời khai của bị đơn do anh D không hợp tác, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng bị đơn Quách Văn Dg không đến Tòa án để làm việc.
* Các tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Chị Triệu Thị H và anh Quách Văn D có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã N, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 23/3/2020 đến cuối năm 2020 thì chị Hg, anh D chuyển nhân khẩu về thôn N, xã K, huyện Ba Bể, hai vợ chồng chung sống cùng bố, mẹ đẻ của chị H từ đó cho đến nay và có 01 người con chung. Thời gian sinh sống tại địa phương thấy vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cãi chửi nhau, nguyên nhân là do anh Dg mải chơi hay tụ tập bạn bè, uống rượu, không chăm lo làm kinh tế, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi, chửi nhau. Thực tế thấy anh Dg, chị H đều đi làm ăn, chủ yếu là đi làm công nhân, chỉ thỉnh thoảng ngày nghỉ, lễ, Tết mới có mặt tại nơi cư trú.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh D nhiều lần đề làm việc nhưng anh D không có mặt, phiên tòa đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Quách Văn D vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án.
* Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự không bị hạn chế quyền tham gia tố tụng và thực hiện đúng quy định pháp luật về tố tụng. Bị đơn vắng mặt nên không tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
* Về yêu cầu khởi kiện của đương sự và đường lối giải quyết vụ án.
- Về quan hệ hôn nhân: Theo tài liệu và ý kiến của nguyên đơn thấy, chị Triệu Thị H và anh Quách Văn D có kết hôn hợp pháp, quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, hay cãi chửi nhau dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay. Chị H xác định vợ chồng không còn tình cảm, bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân nên theo quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì không đảm bảo được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hường xin ly hôn với anh Quách Văn D là có căn cứ.
- Về con chung: Chị Triệu Thị H và anh Quách Văn D có 01 con chung là Quách Triệu Thùy D, sinh ngày 22/7/2020. Con khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hg không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đề nghị căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 56; Điều 81, 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Triệu Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Quách Văn Dg.
* Về con chung: Giao con chung Quách Triệu Thùy D, sinh ngày 22/7/2020 cho chị Triệu Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
* Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Anh Quách Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
* Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Triệu Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp. Căn cứ vào Điều 28; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Bị đơn Quách Văn D không hợp tác và được Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhưng anh D không có mặt, chị Hường không yêu cầu hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Điều 207/BLTTDS. Tuy nhiên, vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 208/BLTTDS.
Tại phiên tòa, bị đơn Quách Văn D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Hg và anh Quách Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã N, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 23/3/2020. Sau khi kết hôn, khoảng cuối năm 2020 anh D đã chuyển nhân khẩu về thôn N, xã K, huyện Ba Bể và vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ của chị H cho đến nay. Trong quá trình chung sống tại địa phương vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh D thường xuyên ham chơi hay tụ tập bạn bè, uống rượu, không chăm lo cho đời sống gia đình, không tập trung làm ăn, dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi chửi nhau, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay. Từ khi sống ly thân không ai có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Quách Văn D.
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ lời khai của chị H và các tài liệu chứng cứ xác minh tại địa phương thấy quan hệ hôn nhân của chị H anh D là đúng thực tế, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, cãi, chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay, mỗi người một nơi, kinh tế tự làm ăn riêng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh D không hợp tác để trình bày ý kiến, quan điểm, chị H yêu cầu xin ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
. Về con chung: Chị Triệu Thị H và anh Quách Văn D có 01 con chung là Quách Triệu Thùy D, sinh ngày 22/7/2020. Con khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Xét thấy, anh D hiện nay đi làm công nhân, không trực tiếp nuôi con, đồng thời cũng không có ý kiến gì khi Tòa án giải quyết vụ án. Mặt khác, chị H đang trực tiếp nuôi con, thường xuyên quan tâm, chăm sóc, chu cấp tiền nuôi con đầy đủ, ổn định hơn, đồng thời con hiện nay dưới 36 tháng tuổi. Để đảm bảo quyền lợi của con chung cần giao con cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh Quách Văn D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Triệu Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị Triệu Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, khoản 1, Điều 56; Điều 81, 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Triệu Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Triệu Thị H, chị H được ly hôn với anh Quách Văn D.
2. Về con chung: Giao con chung Quách Triệu Thùy Dg, sinh ngày 22/7/2020 cho chị Triệu Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Quách Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Triệu Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Triệu Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001151 ngày 07/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành bản án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND H. Ba Bể; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Chi cục THADS H. Ba Bể; - Các đương sự; - UBND xã N; - Lưu HSVA; - Lưu VP; Lưu trữ: THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Thị Thào + Lưu Xuân Thảo HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thăng Bắc + Chu Thị Thu Trang | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ma Thị Nguyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Thị Nguyên Ma Thị Nguyên |