- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Đỗ Thị L xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ"
- Tòa quyết gì? ̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí của Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 02/02/2023 "Về việc ly hôn và nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Mỹ Huê
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hồ Thị Hoa
- Bà Phạm Thị Việt Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2022/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Tố L, sinh năm 1987 (có mặt )
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Minh Giồng, xã Vân Khánh Đông, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ghi ngày 27/10/2022 nguyên đơn chị Đỗ Tố L trình bày và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Chị L và anh Đ kết hôn với nhau năm 2014, tại UBND xã Vân Khánh Đông, huyện An Minh. Khi kết hôn thì vợ chồng sống không hợp nhau nên không hạnh phúc lắm nhưng vẫn cố gắng nhẫn nhịn để nuôi con, càng nhẫn nhịn thì anh Đ càng khó khăn. Trong cuộc sống vợ chồng anh Đ không tin tưởng, ghen tuông vô cớ, chị nói thì anh không nghe mà đánh chị L nhiều lần nên càng ngày mâu thuẫn nhiều hơn chị L xác định cuộc hôn nhân giữa chị L và anh Đ không thể sống với nhau được.
Nay chị L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Chị và anh Đ có 02 đứa con chung tên Nguyễn Tố Linh, sinh ngày 16/9/2015, Nguyễn Bá Đạt, sinh ngày 11/12/2017. Hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi được ly hôn chị L yêu cầu được nuôi 02 đứa con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con cùng chị L.
- Về tài sản và nợ: Chị L xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt nên không ý kiến trình bày:
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Đỗ Tố L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn, được nuôi con, bị đơn anh Đ đã được triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
* Kiểm sát viên phát biểu:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, đối với người tham gia tố tụng thì từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
Ý kiến về giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì xác định chị Lam và anh Điện có đăng kết hôn 2014, trong thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ, xét thấy, hôn nhân giữa chị L và anh Đ là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống với nhau do có nhiều mâu thuẫn nên chị L khởi kiện xin ly hôn với anh Đ nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Chị L xác định có 02 đứa con, Nguyễn Tố Linh, sinh ngày 16/9/2015, Nguyễn Bá Đạt, sinh ngày 11/12/2017. Hiện nay chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh Đ từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay không ý kiến, xét thấy yêu cầu của chị L là có cơ sở phù hợp quy định tại các Đều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của cháu Linh nên giao các cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng chị L không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, nên đề nghị không xem xét.
-Về tài sản và nợ: Chị L xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1]. Xét về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện An Minh tống đạt thông báo thụ lý cho anh Nguyễn Văn Đ biết và quy định thời hạn cho anh Đ về việc chị L khởi kiện xin ly hôn với anh Đ nhưng đã hết thời hạn anh Đ không ý kiến, Tòa án nhân dân huyện An Minh thực hiện các thủ tục tiếp theo, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử anh Đ không đến. Tại phiên tòa hôm nay (lần 2) chị L không yêu cầu HĐXX hoãn phiên tòa nên HĐXX quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Đ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Tố L và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau năm 2014. Xét thấy, hôn nhân giữa chị L và anh Đ xác có đăng ký kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp, việc đăng ký kết hôn phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Xét khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh Đ thấy rằng: Tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Đ đã xảy ra nhiều bất đồng nên chị L yêu cầu ly hôn với anh Đ, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện An Minh tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Đ, HĐXX xét thấy hôn nhân của chị L và anh Đ thật sự đã mâu thuẫn trầm trọng bởi vì theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình có quy định về tình nghĩa vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thực hiện các công việc trong gia đình, sau khi chị L khởi kiện xin ly hôn Tòa án thông báo cho anh Đ đến để tham gia hòa giải nhằm mục đích hòa giải để chị L và anh Đ về đòan tựu, nhưng cả hai lần anh không đến, tại phiên tòa chị L quyết định yêu cầu được ly hôn với anh Đ nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L cho chị L được ly hôn với anh Đ là hoàn toàn phụ hợp quy định Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Về quan hệ con chung: Chị L xác định chị và anh Điện có 02 đứa con. Nguyễn Tố Linh, sinh ngày 16/9/2015 và Nguyễn Bá Đạt, sinh ngày 11/12/2017. Hiện nay chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, xét thấy yêu cầu của chị L là có cơ sở phù hợp quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luạt hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với nguyện vọng của cháu Linh, cháu đạt hiện nay chưa đến tuổi hỏi nguyện vọng nhưng các cháu đang sống với chị L nên giao cháu Linh và cháu Đạt cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
[4]. Về quan hệ cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
[5]. Về tài sản và nợ: Chị L xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí của Tòa án.
[1].Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Tố L được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
[2]. Về quan hệ con chung: Xác định chị L và anh Đ có 02 đứa con, Nguyễn Tố Linh, sinh ngày 16/9/2015, Nguyễn Bá Đạt, sinh ngày 11/12/2017. Hiện nay chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn giao cháu Linh và cháu Đạt cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng.
[3]. Về quan hệ cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
[4]. Về tài sản và nợ: Chị Lam xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Không xem xét.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Đỗ Tố L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), án phí ly hôn, nhưng được trừ vào 300.000 đồng mà chị đã nộp theo biên lai số 0000986 ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh. Chị L thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm.
[5].Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/02/2023), đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản chính của bản án này tống đạt hợp lệ theo thủ tục Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi gởi;
| - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Minh; - TAND tỉnh Kiên Giang; - Các đương sự; - UBND xã Vân Khánh Đông; - Chi cục THADS huyện An Minh; - Lưu HS vụ án, VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Mỹ Huê |