- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh Trần Văn Th khởi kiện"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/DS-ST Ngày: 29/3/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Toàn và ông Phạm Thanh Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn Th – sinh năm 1984
Địa chỉ: Ấp 1, xã ĐL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị O – sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp 4, xã ĐL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Tạ Thị L – sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp 1, xã ĐL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2/ Anh Tô Văn H – sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp 4, xã ĐL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn Th trình bày:
Vợ chồng anh Th, chị L có quen biết vợ chồng chị O, anh H nên có cho chị O, anh H vay số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) theo “Giấy mượn tiền” ngày 20/01/2021 Âm lịch (nhằm ngày 03/3/2021 Dương lịch) và hẹn trả tiền ngày 20/12/2021 Âm lịch (nhằm ngày 22/01/2022). Do phía chị O, anh H hứa hẹn nhiều lần mà không trả tiền nên anh Th khởi kiện chị O và anh H có nghĩa vụ trả cho anh Th và chị L số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi.
Tại lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:
Chị O thừa nhận việc chị O và anh H vay của anh Th, chị L số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) theo “Giấy mượn tiền” ngày 20/01/2021 Âm lịch và đồng ý có trách nhiệm trả số tiền đã vay. Do chị bận việc đi làm nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại lời khai trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị L trình bày:
Chị L là vợ của anh Th. Chị L đồng ý yêu cầu của anh Th và không có ý kiến gì khác, không có yêu cầu độc lập.
Tại lời khai trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Văn H trình bày:
Anh H là chồng của chị O. Anh H thừa nhận việc anh và chị O vay của anh Th, chị L số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và đồng ý có trách nhiệm trả số tiền đã vay, không có ý kiến gì khác và không có yêu cầu độc lập.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự. Các đương sự không có ý kiến gì khác đối với các tài liệu, chứng cứ.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình, bị đơn không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Th về việc yêu cầu chị O, anh H có nghĩa vụ trả cho anh Th, chị L số tiền nợ gốc là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Nguyễn Thị O có nơi cư trú tại xã ĐL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tư cách tố tụng: Anh Trần Văn Th khởi kiện yêu cầu chị O, anh H có nghĩa vụ trả anh Th, chị L số tiền đã vay. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Th là người khởi kiện chị O nên xác định tư cách đương sự anh Th là nguyên đơn, chị O là bị đơn; chị L là vợ của anh Th và số tiền đã cho vay là tài sản chung của anh chị; anh H là chồng của chị O và cùng có trách nhiệm trả tiền; nên xác định tư cách đương sự chị L và anh H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tư cách đương sự được quy định tại khoản 2, 3 và khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu khởi kiện: Văn bản “Giấy mượn tiền” ngày 20/01/2021 Âm lịch (nhằm ngày 03/3/2021 Dương lịch) có thời hạn đến ngày 20/12/2021 Âm lịch (nhằm ngày 22/01/2022). Đến ngày 29/7/2022, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự và Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Các đương sự có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện: Anh Th khởi kiện yêu cầu chị O và anh H có nghĩa vụ trả cho anh Th và chị L số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi.
Xét “Giấy mượn tiền” ngày 20/01/2021 Âm lịch (nhằm ngày 03/3/2021 Dương lịch) là giao dịch dân sự do các bên anh Th và chị O, anh H tự nguyện ký kết, có năng lực hành vi dân sự, mục đích và hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận toàn bộ nội dung vay tiền theo thỏa thuận đã ký kết nhưng do có đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với nghĩa vụ thực hiện, chị O và anh H đã vi phạm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự nên nguyên đơn anh Th khởi kiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện đối với nghĩa vụ trả số tiền gốc của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu khởi kiện đối với nghĩa vụ trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị O, anh H phải chịu 30.000.000đ x 5% = 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Th số tiền 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 117, Điều 357, Điều 385, Điều 401, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Th về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc chị Nguyễn Thị O và anh Tô Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Trần Văn Th và chị Tạ Thị L số tiền nợ gốc là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị O và anh Tô Văn H phải chịu 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Th số tiền 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0002828 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA DS huyện Tân Phú; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |