vanban.org

Bản án 05/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu N đối với bà Huỳnh Thị L. Buộc bà Huỳnh Thị L có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu N tổng số tiền là 129.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hánh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Về án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Nguyễn Thị Thu N với bị đơn Huỳnh Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu N đối với bà Huỳnh Thị L. Buộc bà Huỳnh Thị L có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu N tổng số tiền là 129.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/DS-ST
Ngày 06 tháng 03 năm 2023
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN NHÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tú Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lại Thiện Phong

2. Bà Võ Thị Hồng Xuyên

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Minh Kha – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 03 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 385/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1965 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1970 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu N trình bày:

Vào ngày 06/01/2020 dương lịch, bà Nguyễn Thị Thu N có cho bà Huỳnh Thị L vay số tiền là 32.500.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, bà Huỳnh Thị L hứa 02 tháng sẽ trả đủ.

Vào ngày 13/6/2021, bà Nguyễn Thị Thu N có cho bà Huỳnh Thị L vay số tiền là 48.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, bà Huỳnh Thị L cũng hứa 02 tháng sau sẽ trả đủ.

Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 25/11/2022, biên bản hòa giải ngày 11/01/2023 bà Nguyễn Thị Thu N xác định vào ngày 02/01/2022 dương lịch, bà Nguyễn Thị Thu N có cho bà Huỳnh Thị L vay số tiền là 30.000.000 đồng, không có thỏa thuận lãi suất, bà Huỳnh Thị L hứa 07 tháng sau sẽ trả đủ. Tuy nhiên đến ngày 10/2/2023 bà Nguyễn Thị Thu N xác định do bà không nhớ rõ nên bà xác định khoản vay 30.000.000 đồng bà N cho bà Huỳnh Thị L vay vào ngày 02/01/2022 dương lịch theo ngày mà bà Huỳnh Thị L ký biên nhận nhận nợ với bà N. Bà N xác định khoản vay 30.000.000 đồng nêu trên bà N cho bà Huỳnh Thị L vay vào ngày 05/12/2020 dương lịch, bà Huỳnh Thị L hứa 07 tháng sau (tức là đến ngày 05/7/2021 dương lịch) thì bà Huỳnh Thị L sẽ trả đủ cho bà N. Tuy nhiên, lúc cho vay thì bà N chỉ ghi biên nhận tự theo dõi chứ bà Huỳnh Thị L không có ký nhận số nợ trên với bà N. Đến ngày 02/01/2022 dương lịch thì bà N mới gặp bà Huỳnh Thị L yêu cầu bà Huỳnh Thị L phải ký nhận khoản nợ này với bà N.

Từ khi vay các khoản tiền nêu trên đến nay thì bà Huỳnh Thị L không có trả cho bà Nguyễn Thị Thu N số tiền nào. Nay bà Nguyễn Thị Thu N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu N tổng số tiền vay gốc của 03 lần vay là 110.500.000 đồng và tiền lãi đối với từng khoản vay theo quy định của pháp luật kể từ ngày hết hạn thỏa thuận trả nợ giữa hai bên cho đến khi bà Huỳnh Thị L thanh toán dứt nợ.

Cả 03 lần bà Huỳnh Thị L vay tiền của bà N thì bà Huỳnh Thị L đều có viết biên nhận giao cho bà N giữ. Bà N chỉ yêu cầu bà Huỳnh Thị L có trách nhiệm trả nợ cho bà N, bà N không yêu cầu chồng bà Huỳnh Thị L là ông Nguyễn Văn Nghĩa cùng có trách nhiệm với bà Huỳnh Thị L trả nợ cho bà N vì khi vay tiền thì chỉ có bà Huỳnh Thị L giao dịch với bà N, ông Nguyễn Văn Nghĩa không có tham gia giao dịch với bà N.

Bà N không đồng ý việc bà Huỳnh Thị L xác định các khoản tiền nợ nêu trên là tiền nợ hụi. Các khoản tiền mà bà N khởi kiện nêu trên là tiền vay. Giữa bà N với bà Huỳnh Thị L không có nợ tiền hụi gì với nhau. Ngoài ra bà N không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Huỳnh Thị L trình bày: Bà Huỳnh Thị L không đồng ý số tiền 110.500.000 đồng mà bà Nguyễn Thị Thu N khởi kiện bà Huỳnh Thị L là tiền vay. Số tiền 110.500.000 đồng này có nguồn gốc từ việc bà Huỳnh Thị L chơi hụi của bà N và nợ tiền hụi của bà N.

Đối với khoản nợ 32.500.000 đồng theo biên nhận ngày 06/01/2020 dương lịch và khoản nợ 48.000.000 đồng theo biên nhận ngày 13/06/2021 dương lịch thì hai khoản nợ này bà Huỳnh Thị L đã thanh toán hết cho bà N, lúc trả hết hai khoản nợ này thì bà Huỳnh Thị L đều có yêu cầu bà N giao lại các biên nhận này cho bà Huỳnh Thị L để hủy bỏ nhưng bà N nói với bà Huỳnh Thị L là giữa bà Huỳnh Thị L với bà N làm ăn chung nhiều năm, không lẽ không tin tưởng nhau mà phải yêu cầu đưa biên nhận lại để hủy bỏ. Bà Huỳnh Thị L cũng nghỉ đơn giản trả hết nợ thì thôi và tin tưởng bà N nên cũng không có lấy lại hai biên nhận nợ này. Nay bà N khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị L trả hai khoản nợ này thì bà Huỳnh Thị L không đồng ý.

+ Đối với khoản nợ 30.000.000 đồng theo biên nhận ngày 02/01/2022 dương lịch thì bà Huỳnh Thị L thừa nhận còn thiếu bà N và đồng ý trả số tiền nợ này cùng lãi suất theo quy định của pháp luật cho bà N.

Do thời gian đã lâu và bà Huỳnh Thị L cũng không còn giữ các giấy tờ liên quan đến các khoản nợ hụi này nên bà Huỳnh Thị L không nhớ số tiền nợ hụi nêu trên là của dây hụi cụ thể nào. Khi bà Huỳnh Thị L trả số tiền nợ hụi 32.500.000 đồng theo biên nhận ngày 06/01/2020 dương lịch và số tiền nợ hụi 48.000.000 đồng theo biên nhận ngày 13/06/2021 dương lịch thì bà Huỳnh Thị L không có làm biên nhận trả tiền với bà N. Chữ ký “L” và họ tên “Huỳnh Thị L” trong các biên nhận mà bà Nguyễn Thị Thu N cung cấp cho Tòa án đúng là chữ ký và chữ viết của bà Huỳnh Thị L. Bà Huỳnh Thị L không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh là bà đã trả hết số tiền nợ hụi 32.500.000 đồng theo biên nhận ngày 06/01/2020 dương lịch và trả hết số tiền nợ hụi 48.000.000 đồng theo biên nhận ngày 13/06/2021 dương lịch cho bà N. Ngoài ra bà Huỳnh Thị L không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay các đương sự, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu N đối với bà Huỳnh Thị L. Buộc bà Huỳnh Thị L có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu N tổng số tiền là 129.620.000 đồng (trong đó nợ gốc là: 110.500.000 đồng, nợ lãi là: 19.120.000 đồng). Ngoài ra bà Huỳnh Thị L phải có trách nhiệm nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu N khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Huỳnh Thị L phải trả cho bà N tổng số tiền vay gốc là 110.500.000 đồng đồng và lãi suất phát sinh theo quy định của pháp luật nên đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại Ấp C, xã N, huyện H nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu N yêu cầu bà Huỳnh Thị L phải trả tổng số tiền vay gốc là 110.500.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày hết hạn thỏa thuận trả nợ giữa hai bên cho đến khi thanh toán dứt nợ, Hội đồng xét xử, xét thấy:

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà Nguyễn Thị Thu N có cung cấp cho Tòa án 03 biên nhận nhận tiền có chữ ký của bà Huỳnh Thị L. Cụ thể:

Biên nhận ngày 06/01/2020 dương lịch, thể hiện bà Huỳnh Thị L có nhận số tiền của bà Nguyễn Thị Thu N là 32.500.000 đồng, không có thỏa thuận lãi suất khi vay, bà Huỳnh Thị L hứa 02 tháng sau sẽ trả đủ.

Biên nhận ngày 13/6/2021 dương lịch, thể hiện bà Huỳnh Thị L có nhận số tiền của bà Nguyễn Thị Thu N là 48.000.000 đồng, không có thỏa thuận lãi suất khi vay, bà Huỳnh Thị L hứa 02 tháng sau sẽ trả đủ.

Biên nhận ngày 02/01/2022 dương lịch, thể hiện bà Huỳnh Thị L có nhận số tiền của bà Nguyễn Thị Thu N là 30.000.000 đồng, không có thỏa thuận lãi suất khi vay, cam kết ngày 05/7/2021 dương lịch sẽ trả đủ.

Quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị L thừa nhận chữ ký trong các biên nhận nhận tiền do bà Nguyễn Thị Thu N cung cấp cho Tòa án nêu trên đúng là chữ ký của bà Huỳnh Thị L. Do đó có cơ sở xác định bà Huỳnh Thị L có nhận tiền của bà Nguyễn Thị Thu N 03 lần vào các ngày nêu trên với tổng số tiền là 110.500.000 đồng. Đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Huỳnh Thị L xác định 03 lần nhận tiền của bà Nguyễn Thị Thu N nêu trên là nhận tiền hụi đồng thời đối với số tiền 32.500.000 đồng nhận vào ngày 06/01/2020 dương lịch và số tiền 48.000.000 đồng nhận vào ngày 13/6/2021 dương lịch thì bà Huỳnh Thị L đã trả hết cho bà N, khi trả hết các khoản tiền nêu trên thì bà Huỳnh Thị L có yêu cầu bà N giao lại các biên nhận này cho bà Huỳnh Thị L để hủy bỏ nhưng bà N không có giao lại các biên nhận này cho bà Huỳnh Thị L và bà Huỳnh Thị L cũng không có bắt buộc bà N phải giao lại các biên nhận này do tin tưởng nhau, khi trả tiền thì bà Huỳnh Thị L không có làm biên nhận trả tiền với bà N. Đối với khoản nợ 30.000.000 đồng theo biên nhận ngày 02/01/2022 dương lịch thì bà Huỳnh Thị L thừa nhận còn thiếu bà N và đồng ý trả số tiền này cùng lãi suất theo quy định của pháp luật cho bà N.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án bà N không thừa nhận tổng số tiền 110.500.000 đồng mà bà Huỳnh Thị L nhận 03 lần nêu trên là tiền nợ hụi và bà N cũng không đồng ý việc bà Huỳnh Thị L xác định đã trả hết khoản nợ 32.500.000 đồng nhận vào ngày 06/01/2020 dương lịch và khoản nợ 48.000.000 đồng nhận vào ngày 13/6/2021 dương lịch trong khi bà Huỳnh Thị L không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó có cơ sở xác định tổng số tiền 110.500.000 đồng mà bà Huỳnh Thị L nhận của bà N theo 03 biên nhận nêu trên là tiền vay và bà Huỳnh Thị L vẫn chưa trả được khoản tiền nào cho bà N. Vì vậy việc bà N khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị L phải trả tổng số tiền vay gốc là 110.500.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với từng khoản vay kề từ ngày hết hạn thỏa thuận trả nợ giữa hai bên cho đến khi thanh toán dứt nợ là có cơ sở chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy, khi cho vay thì các bên không có thỏa thuận lãi suất vay nên theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, lãi suất được áp dụng cho các khoản vay nêu trên là 10%/năm (tương đương 0,83% tháng).

- Đối với khoản vay 32.500.000 đồng vào ngày 06/01/2020 dương lịch, hai bên có thỏa thuận thời hạn trả nợ sau 02 tháng kể từ ngày vay, do đó tiền lãi sẽ phát sinh từ ngày hết hạn thỏa thuận trả nợ là ngày 07/3/2020. Từ ngày 07/3/2020 đến thời điểm Tòa án xét xử (ngày 06/3/2023) là 02 năm 11 tháng 27 ngày. Như vậy tiền lãi đối với khoản vay 32.500.000 đồng vào ngày 06/01/2020 dương lịch cụ thể như sau: (32.500.000 đồng x 10%/năm) x 02 năm 11 tháng 27 ngày = (3.250.000 đồng/năm) x 02 năm 11 tháng 27 ngày = (270.833 đồng/tháng) x 1.087 ngày = (9.027 đồng/ngày) x 1.087 ngày = 9.812.349 đồng (làm tròn là 9.812.000 đồng).

- Đối với khoản vay 48.000.000 đồng vào ngày 13/6/2021 dương lịch, hai bên có thỏa thuận thời hạn trả nợ sau 02 tháng kể từ ngày vay, do đó tiền lãi sẽ phát sinh từ ngày hết hạn thỏa thuận trả nợ là ngày 14/8/2021. Từ ngày 14/8/2021 đến thời điểm Tòa án xét xử (ngày 06/3/2023) là 01 năm 06 tháng 20 ngày. Như vậy tiền lãi đối với khoản vay 48.000.000 đồng vào ngày 13/6/2021 dương lịch cụ thể như sau: (48.000.000 đồng x 10%/năm) x 01 năm 06 tháng 20 ngày = (4.800.000 đồng/năm) x 01 năm 06 tháng 20 ngày = (400.000 đồng/tháng) x 565 ngày = (13.333 đồng/ngày) x 565 ngày = 7.533.145 đồng (làm tròn là 7.533.000 đồng).

- Đối với khoản vay 30.000.000 đồng theo biên nhận ngày 02/01/2022 dương lịch, quá trình giải quyết vụ án bà N xác định khoản vay này bà Huỳnh Thị L vay vào ngày 05/12/2020 dương lịch, bà Huỳnh Thị L hứa 07 tháng sau (tức là đến ngày 05/7/2021 dương lịch) thì bà Huỳnh Thị L sẽ trả đủ cho bà N. Tuy nhiên, đến ngày 02/01/2022 dương lịch thì bà Huỳnh Thị L mới ký nhận khoản nợ này với bà N. Nay bà N yêu cầu Tòa án tính lãi đối với khoản vay này từ ngày 03/8/2022 dương lịch (tức là 07 tháng sau kể từ ngày bà Huỳnh Thị L ký nhận nợ khoản vay này với bà N) vì vậy cần ghi nhận ý chí tự nguyện này của bà N. Từ ngày 03/08/2022 đến thời điểm Tòa án xét xử (ngày 06/3/2023) là 07 tháng 03 ngày. Như vậy tiền lãi đối với khoản vay 30.000.000 đồng cụ thể như sau: (30.000.000 đồng x 10%/năm) x 07 tháng 03 ngày = (3.000.000 đồng/năm) x 07 tháng 3 ngày = (250.000 đồng/tháng) x 213 ngày = (8.333 đồng/ngày) x 213 ngày = 1.774.929 đồng (làm tròn là 1.775.000 đồng).

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bà Huỳnh Thị L trả cho bà Nguyễn Thị Thu N tổng số tiền là: 110.500.000 đồng tiền vay gốc + 19.120.000 đồng tiền lãi = 129.620.000 đồng.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Bà Huỳnh Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền buộc phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu N là 6.481.000 đồng (129.620.000 đồng x 5% = 6.481.000 đồng).

Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ vào các Điều 2; 6; 7; 7a; 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu N đối với bà Huỳnh Thị L. Buộc bà Huỳnh Thị L có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu N tổng số tiền là 129.620.000 đồng (trong đó nợ gốc là: 110.500.000 đồng, nợ lãi là: 19.120.000 đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hánh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Thu N không phải chịu án phí. Bà Nguyễn Thị Thu N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 2.762.000 đồng theo biên lai thu số 0006594 ngày 08/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H được hoàn lại toàn bộ.

Buộc bà Huỳnh Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 6.481.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ