- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X đối với ông Phạm Thành L.
- Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/DS-ST Ngày: 31/3/2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Lước;
2. Ông Bồ Quốc Khánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung-Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 187/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1957. Địa chỉ: Tổ 6, ấp MĐ, xã BM, huyện M, tỉnh Bình Dương; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Thành L, sinh năm 1994, Địa chỉ: Số nhà 641, ấp ĐS, xã BM, huyện M, tỉnh Bình Dương; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày:
Do có quan hệ quen biết nên ngày 31/10/2019, cháu Nguyễn Thành L có lập văn bản vay của bà số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận bằng lời nói 6%/tháng, vay không thời hạn, khi nào đòi thì bà X sẽ báo trước một thời gian hợp lý.
Ngày 01/11/2019, cháu Nguyễn Thành L có lập văn bản vay tiếp 300.000.000 đồng của bà X, buổi sáng nhận 200.000.000 đồng; buổi chiều nhận 100.000.000 đồng; lãi suất thỏa thuận bằng lời nói 6%/tháng, cho vay không thời hạn, khi nào đòi thì bà X sẽ báo trước một thời gian. Trong thời gian vay, cháu L không có thanh toán tiền lãi. Qua nhiều lần đòi nợ bên cháu L không thanh toán cho bà số tiền gốc và tiền lãi nên bà X khởi kiện.
Bà Nguyễn Thị X yêu cầu ông Nguyễn Thành L phải thanh toán số nợ vay gốc là 600.000.000 đồng và tiền lãi là 176.790.000 đồng, cụ thể:
- Nợ lãi từ ngày 31/10/2019 đến ngày 19/10/2022: 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 35,5 tháng là 88.395.000 đồng.
- Nợ lãi từ ngày 01/11/2019 đến ngày 19/10/2022: 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 35,5 tháng là 88.395.000 đồng.
Tổng cộng là 776.790.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn). Bà X không có yêu cầu gì khác.
Tại bản tự khai ngày 16/02/2023, bị đơn ông Phạm Thành L (có đơn xin vắng mặt) trình bày:
Ông L có quen bà Bảy (tức là bà Nguyễn Thị X), ông thừa nhận có vay tiền của bà X nhiều lần có làm văn bản, thoả thuận lãi suất bằng lời nói 07%/tháng, trả lãi nhiều lần quá nên không nhớ.
Ngày 31/10/2019, bị đơn L có vay 300.000.000 đồng của bà X, lãi suất thỏa thuận qua lời nói 07%/tháng, vay không thời hạn, khi nào đòi thì bà X sẽ báo trước một thời gian hợp lý.
Ngày 01/11/2019, bị đơn Nguyễn Thành L có vay 300.000.000 đồng của bà X, buổi sáng lấy 200.000.000 đồng; buổi chiều nhận 100.000.000 đồng; lãi suất thỏa thuận qua lời nói 7%/tháng, vay không thời hạn, khi nào đòi thì bà X sẽ báo trước một thời gian hợp lý. Giấy vay nợ bà X đưa ra là đúng.
Do làm ăn thất bại nên hiện ông L chưa thanh toán cho bà Nguyễn Thị X. Bị đơn chỉ trả lãi được 42.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ làm chứng minh.
Nay, bà Nguyễn Thị X yêu cầu ông Nguyễn Thành L phải thanh toán số nợ vay gốc là 600.000.000 đồng và tiền lãi đến tháng 10/2022 là 176.790.000 đồng. Tổng cộng là 776.790.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn).
Trước yêu cầu khởi kiện của bà X, về mức lãi 0,83%/tháng là hợp lý nhưng bị đơn ông L không có khả năng trả lãi là 176.790.000 đồng do công việc làm ăn hiện nay quá khó khăn, kinh tế suy thoái. Bị đơn chỉ đồng ý thanh toán số tiền gốc là 600.000.000 đồng và Xn trả dần (Trả góp) hàng tháng cho đến khi hết số nợ.
Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật của người tiến hành tố tụng. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, hai đương sự đều có đơn Xn giải quyết vắng mặt. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục xét xử theo quy định pháp luật, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình việc Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án được xét xử trong thời hạn luật định. Viện Kiểm sát không kiến nghị, khắc phục gì thêm.
Về quan điểm giải quyết của Viện Kiểm sát đối với vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Phạm Thành L có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị X số nợ vay gốc là 600.000.000 đồng và tiền lãi đến tháng 10/2022 là 176.790.000 đồng. Tổng cộng: 776.790.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự do bị đơn ông Phạm Thành L có nơi cư trú tại xã BM, huyện M, tỉnh Bình Dương và đối tượng tranh chấp trong vụ án là nghĩa vụ thanh toán của bị đơn.
[2] Việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị X và bị đơn ông Phạm Thành L có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 277, 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đủ căn cứ.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại “Giấy mượn tiền” đề ngày 31/10/2019 và 01/11/2019 thể hiện nội dung ông L có vay của bà X tồng số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng); thỏa thuận khi nào cần bà X sẽ báo trước một thời gian hợp lý thì ông L sẽ thanh toán lại số tiền trên, thỏa thuận lãi suất bằng lời nói, nguyên đơn cho rằng 6%/tháng, bị đơn cho rằng 7%/tháng; bên dưới góc phải của văn bản có chữ ký, dòng chữ ghi họ và tên “Phạm Thành L”, ông L thừa nhận chữ ký của ông trong giấy vay tiền là đúng, đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó, HĐXX có cơ sở xác định đây là hợp đồng vay tài sản và có lãi suất theo Điều 463 và Điều 469 Bộ luật Dân sự. Bà X cho rằng ông L không thanh toán lãi suất hàng tháng nên bà đòi tiền vay gốc, ông L cũng không thanh toán; ông L cho rằng có trả lãi cho bà X được 42.000.000 đồng nhưng bà X không thừa nhận, ông L không đưa ra được chứng cứ trả lãi nên HĐXX không có cơ sở xem xét. Do ông Phạm Thành L vi phạm thời hạn và nghĩa vụ thanh toán nên bà X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L có trách nhiệm trả khoản nợ vay cho nguyên đơn số tiền vay gốc là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận.
Về khoản tiền lãi, bà X yêu cầu ông thanh toán: Nợ lãi từ ngày 31/10/2019 đến ngày 19/10/2022: 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 35,5 tháng là 88.395.000 đồng; Nợ lãi từ ngày 01/11/2019 đến ngày 19/10/2022: 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 35,5 tháng là 88.395.000 đồng. Tổng cộng là 176.790.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn). Căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc cho vay trong nội bộ nhân dân nhằm tương trợ lẫn nhau nên bà X yêu cầu tiền lãi như trên là phù hợp với pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thành L phải chịu theo Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 179, Điều 227, Điều 235, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 463, Điều 469, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự;
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X đối với ông Phạm Thành L.
- Buộc ông Phạm Thành L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị X số tiền gốc là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) và khoản tiền lãi từ ngày 31/10/2019 đến ngày 19/10/2022 là 176.790.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn). Tổng cộng 776.790.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn).
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Phạm Thành L phải chịu số tiền 35.071.600 đồng (Ba mươi lăm triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị X được miễn án phí theo Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - Các đương sự; - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |