vanban.org

Bản án 05/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy viết tay ghi ngày 05/12/2021 giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn Thành, bà Trịnh Thị Hùy, anh Nguyễn Trung Nghĩa và bên nhận chuyển nhượng bà Hoàng Thị Ngọc Lan. Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lã Văn Trinh và Nguyễn Văn Thành"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 123 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 05/2023/DS-ST
Ngày 05 - 4 - 2023
Về việc “Yêu cầu tuyên bố giao

dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử

dụng đất vô hiệu"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Bích Phượng.

2. Ông Lý Seo Vần.

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2022 về “Yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-DS ngày 10/3/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lã Văn Tr - Sinh năm: 1980 và bà Hoàng Thị Ngọc Lan - Sinh năm: 1982, cùng địa chỉ: Thôn Làng Bạc, xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trinh, bà Lan là ông Lê Thanh Hải - Luật sư văn phòng luật sư Cao Hùng - Đoàn luật sư tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Thành, Sinh năm: 1974 và bà Trịnh Thị Hùy, sinh năm 1976, cùng địa chỉ: Tổ dân phố Phú Long 1, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Đều có mặt.

Người có quyền lợi liên quan: Anh Nguyễn Trung Nghĩa, sinh năm 1990

Địa chỉ: TDP Phú Long 1, thị trấn phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nghĩa: bà Trịnh Thị Hùy - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ghi ngày 27/9/2022 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lã Văn Tr và bà Hoàng Thị Ngọc Lan trình bầy:

Ngày 05/12/2021 ông Lã Văn Tr và bà Hoàng Thị Ngọc Lan có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn Thành, bà Trịnh Thị Hùy 01 thửa đất đồi tại tổ dân phố Phú Long 1, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai với chiều dài mặt đường rộng 13,2m, chiều sâu 30m, phía bên trái nhìn ra mặt đường giáp đất nhà bà Hoàng Thị Thêu, phía bên phải nhìn ra mặt đường giáp đất gia đình ông Nguyễn Văn Thành. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng, giấy chuyển nhượng được viết tay có chữ ký của các bên và con trai của ông Thành, bà Hùy là Nguyễn Trung Nghĩa. Trong giấy chuyển nhượng ghi rõ ông Thành, bà Hùy có trách nhiệm làm bìa đỏ sang tên cho bà Hoàng Thị Ngọc Lan theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm chuyển nhượng các bên chưa tiến hành bàn giao đất, chưa cắm mốc ngoài thực địa mà chỉ cùng nhau thống nhất về vị trí thửa đất đồi sẽ chuyển nhượng ngoài thực địa.

Ngày 14/12/2021 ông Trinh, bà Lan đã chuyển số tiền 500.000.000 đồng trên cho ông Thành, bà Hùy thông qua tài khoản của anh Ngô Duy Hùng là cháu của ông Thành, bà Hùy. Sau khi nhận được số tiền trên thì ông Thành, bà Hùy đã trả lại cho ông Trinh, bà Lan số tiền 65.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền mà ông Thành, bà Hùy đã nhận của ông Trinh, bà Lan thông qua tài khoản là 435.000.000 đồng + 15.000.000 đồng tiền đặt cọc ngày 05/12/2021, tổng là 450.000.000 đồng.

Sau đó ông Trinh, bà Lan phát hiện ra khu vực thửa đất trên đã nằm trong vùng quy hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai trước khi chuyển nhượng, như vậy ông Thành, bà Hùy đã nói dối về tình trạng pháp lý của thửa đất nhằm mục đích nhận được tiền của ông Trinh, bà Lan thông qua giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật.

Nay ông Trinh, bà Lan đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng xem xét tuyên vô hiệu Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hoàng Thị Ngọc Lan và ông Nguyễn Văn Thành, bà Trịnh Thị Hùy, ông Nguyễn Trung Nghĩa ký ngày 05/12/2021.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng vô hiệu: Các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đối tượng không thể thực hiện được do lỗi của ông Thành, bà Hùy. Ông Thành, bà Hùy phải có trách nhiệm hoàn trả, thanh toán cho ông Trinh, bà Lan tổng số tiền gốc đã nhận là 450.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 14/12/2021 tính đến ngày khởi kiện:

Lãi suất tương đương với 1,5%/01 tháng của tổng số tiền giao dịch là: 1,5% X 450.000.000 đồng X 08 tháng = 54.000.000 đồng

Tổng số tiền gốc và lãi phát sinh tính đến ngày khởi kiện là: 504.000.000 đồng (Năm trăm linh bốn triệu đồng).

Tại bản tự khai của bị đơn ông Nguyễn Văn Thành và bà Trịnh Thị Hùy trình bày:

Ngày 05/12/2021 ông bà (Nguyễn Văn Thành, Trịnh Thị Hùy) có chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị Ngọc Lan 01 thửa đất đồi tại tổ dân phố Phú Long 1, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai với chiều dài mặt đường rộng 13,2m, chiều sâu 30m, phía bên trái nhìn ra mặt đường giáp đất nhà bà Hoàng Thị Thêu, phía bên phải nhìn ra mặt đường giáp đất nhà tôi. Hai bên tự thỏa thuận giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng, giấy chuyển nhượng được viết tay có chữ ký của các bên. Trong giấy chuyển nhượng ghi rõ ông bà có trách nhiệm hỗ trợ làm bìa đỏ sang tên cho bà Hoàng Thị Ngọc Lan theo quy định của pháp luật.

Tại thời điểm chuyển nhượng các bên chưa tiến hành bàn giao đất, nhưng đã chỉ vị trí đất cho bà Lan, ông Trinh biết. Tại thời điểm viết giấy chuyển nhượng thìông bà đã nhận tiền đặt cọc của ông Trinh, bà Lan số tiền là 15.000.000 đồng.

Sau khi viết giấy chuyển nhượng đất thì ông bà có nhận số tiền 500.000.000 đồng của ông Trinh, bà Lan thông qua tài khoản của Ngô Duy Hùng là cháu họ của ông bà. Sau đó ông bà đã trả lại cho ông Trinh, bà Lan số tiền 65.000.000 đồng.

Như vậy số tiền mà ông bà đã nhận của ông Trinh, bà Lan là 435.000.000 đồng + 15.000.000 đồng tiền đặt cọc ngày 05/12/2021, tổng là 450.000.000 đồng. Tính đến thời điểm này ông Trinh, bà Lan vẫn còn nợ ông bà số tiền là 50.000.000 đồng tiền mua đất. Tuy nhiên ông bà không làm thủ tục phản tố đối với số tiền này.

Đến nay thửa đất trên vẫn chưa được làm bìa đỏ lý do ông bà cũng không hiểu vì sao ông Trinh bà Lan lại chưa làm được bìa đỏ. Ông bà xác định đây không phải là lỗi của ông bà. Nay ông Trinh, bà Lan đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng xem xét tuyên vô hiệu Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông bà và bà Lan ký ngày 05/12/2021 thì ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra việc mua bán chuyển nhượng đất không liên quan gì đến con trai của ông bà là Nguyễn Trung Nghĩa, anh Nghĩa chỉ ký vào giấy tờ mua bán đất do anh Nghĩa cùng hộ khẩu với ông bà.

- Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

Ông Trinh, bà Lan yêu cầu ông bà phải hoàn trả số tiền cả gốc và lãi là 504.000.000 đồng thì ông bà hoàn toàn nhất trí trả cho ông Trinh bà Lan số tiền 504.000.000đồng.

Đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Trung Nghĩa là bà Trịnh Thị Hùy trình bày:

Ông Trinh, bà Lan đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng xem xét tuyên vô hiệu Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/12/2021 và yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận thì anh Nghĩa nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án tuyên bố giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại những gì đã nhận thì vợ chồng bà (Nguyễn Văn Thành, Trịnh Thị Hùy) sẽ có trách nhiệm thực hiện quyết định của Tòa án. Anh Nghĩa không được nhận số tiền của ông Trinh, bà Lan nên anh Nghĩa không có trách nhiệm trả tiền cho ông Trinh, bà Lan.

Tòa án đã lập biên bản công khai tài liệu, chứng cứ theo quy định và đã hòa giải được việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định. Nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành tốt các định của pháp luật của khi tham gia tố tụng;

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và phần trình bầy của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy: Các đương sự đã thống nhất được vị trí, diện tích đất chuyển nhượng, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Đối với giấy viết tay về việc chuyển nhượng đất ghi ngày 05/12/2021 đều không ghi số thửa, diện tích cụ thể của thửa đất, vị trí, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa và không thực hiện thủ tục chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm điều cấm của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ về nguồn gốc thửa đất cụ thể: Tại biên bản bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng xác định diện tích đất nguyên đơn chuyển nhượng cho bị đơn thuộc thửa số 31, tờ bản đồ DC 1, có diện tích 396m2, đất chưa được cấp GCNQSD đất.

Do đó nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng xem xét tuyên vô hiệu Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hoàng Thị Ngọc Lan và ông Nguyễn Văn Thành, bà Trịnh Thị Hùy, ông Nguyễn Trung Nghĩa ký ngày 05/12/2021.Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên đã vi phạm về hình thức và vi phạm điều cấm của pháp luật, vì vậy cần tuyên vô hiệu đối với giao dịch về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn theo giấy viết tay ghi ngày 05/12/2021 là đúng quy định.

Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 119, 122, 123, 129, 131, 132 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lã Văn Tr và bà Hoàng Thị Ngọc Lan việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy viết tay ghi ngày 05/12/2021 giữa bà ông Nguyễn Văn Thành, bà Trịnh Thị Hùy.

Về hậu quả pháp lý: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã thỏa thuận cụ thể ông Thành bà Hùy phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị Hoàng Thị Lan và anh Lã Văn Tr số tiền gốc đã nhận theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 05/12/2021 là 450.000.000đồng và tiền lãi xuất là 54.000.000đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 504.000.000đồng; vì vậy HĐXX cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đề nghị bị đơn phải chịu 1/2 số tiền chi phí tố tụng. Xác nhận nguyên đơn đã nộp 5.000.000đồng, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên HĐXX cần xét xét buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 2.500.000đồng.

Đề nghị tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện về việc tranh chấp hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bị đơn đảm bảo điều kiện theo quy định, là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về thời hiệu: Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay giữa bên chuyển nhượng là ông nguyễn Văn Thành và bà Trịnh Thị Hùy và bên nhận chuyển nhượng là ông Lã Văn Tr và bà Hoàng Thị Ngọc Lan được lập ngày 05/12/2021 đảm bảo theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự.

[3] Về hình thức và điều kiện của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đảm bảo theo quy định. Tuy nhiên, giấy viết tay về việc chuyển nhượng đất ghi ngày 05/12/2021 đều không được công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền, không ghi quyền và nghĩa vụ của các bên, không ghi diện tích đất chuyển nhượng thuộc thửa đất nào, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa, tình trạng đất, thời hạn sử dụng đất của bên chuyển nhượng, thời hạn sử dụng còn lại của bên nhận chuyển nhượng. Hơn nữa, bà Hùy, ông Thành còn chuyển nhượng đất không thuộc quyền sử dụng của mình. Như vậy giấy viết tay về việc chuyển nhượng đất nêu trên đã vi phạm quy định về hình thức, vi phạm điều cấm của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 117, 119, 123 Bộ luật dân sự 2015.

[4] Về nội dung tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều xác ngày 05/12/2021 nguyên đơn có ký vào giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay với nội dung nguyên đơn chuyển nhượng cho bị đơn 13,2m đất mặt đường, trị giá 500.000.000đồng.

Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ghi ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, xác định diện tích đất ông Thành, bà Hùy chuyển nhượng cho ông Trinh bà Lan chưa được cấp GCNQSD đất và toàn bộ diện tích đất đều nằm trong quy hoạch của UBND tỉnh Lào Cai. Như vậy bà Hùy, ông Thành đã chuyển nhượng vị trí đất không thuộc quyền sử dụng của mình cho gia đình bà Lan, ông Trinh là vi phạm điều cấm của pháp luật.

Vì vậy cần tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy viết tay ghi ngày 05/12/2021 giữa ông Nguyễn Văn Thành, bà trịnh Thị Hùy, ông Lã Văn Tr, bà Hoàng Thị Ngọc Lan là đúng quy định của pháp luật.

[4] Về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu:

Quá trình giải quyết vụ án tại biên bản hòa giải về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì Nguyên đơn Ông Trinh, bà Lan và bị đơn ông Thành, bà Hùy thỏa thuận ông Thành bà Hùy phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Trinh, bà Lan số tiền gốc đã nhận theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 05/12/2021 và tiền lãi là 504.000.000đồng; xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật, vì vậy HĐXX cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đề nghị bị đơn phải chịu 1/2 số tiền chi phí tố tụng. Xác nhận nguyên đơn đã nộp 5.000.000đồng, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên HĐXX cần buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 2.500.000đồng.

Về án phí: Bị đơn ông Thành, bà Hùy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 119, 122, 123, 129, 131, 132 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 157, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy viết tay ghi ngày 05/12/2021 giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn Thành, bà Trịnh Thị Hùy, anh Nguyễn Trung Nghĩa và bên nhận chuyển nhượng bà Hoàng Thị Ngọc Lan.

2. Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Ông Nguyễn Văn Thành và bà Trịnh Thị Hùy phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Lã Văn Tr, bà Hoàng Thị Ngọc Lan số tiền gốc đã nhận theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 05/12/2021 là 450.000.000đồng và tiền lãi là 54.000.000đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 504.000.000đồng (Năm trăm linh bốn triệu đồng); phần của ông Thành là 252.000.000đồng; phần của bà Hùy là 252.000.000đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn ông Lã Văn Tr, bà Hoàng Thị Ngọc Lan và bị đơn ông Nguyễn Văn Thành, bà Trịnh Thị Hùy mỗi bên phải chịu 2.500.000đồng tiền chi phí tố tụng; xác nhận ông Trinh, bà Lan đã nộp 5.000.000đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng. Ông Thành, bà Hùy phải trả cho ông Trinh, bà Lan 2.500.000đồng tiền chi phí tố tụng; phần của ông Thành 1.250.000đồng; phần của bà Hùy 1.250.000đồng.

3. Về án phí: Bà Trịnh Thị Hùy và ông Nguyễn Văn Thành phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng và 12.080.000đồng tiền án phí về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu. Tổng cộng 12.380.000đồng (Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng); phần của ông Thành phải chịu 6.190.000đồng; phần của bà Hùy phải chịu 6.190.000đồng.

Ông Lã Văn Tr, bà Hoàng Thị Ngọc Lan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trịnh bà Lan được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.900.000đồng theo biên lai số 0003048 ngày 10/10/2022 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi liên quan; Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ