- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HSST Ngày 28/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Nhật Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và ông Nguyễn Hà Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/TLST - HS ngày 13 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST - HS ngày 17/01/2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1992; tại: Tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 7, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; vợ Đỗ Thị P và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 15/12/2021 đến ngày 20/12/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay “Có mặt”.
Người làm chứng: Ông Trịnh Văn N và ông Trịnh Văn C “Đều vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2021, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Excite, sơn màu xanh, biển kiểm soát 35B2 - 175.6.., đi từ nhà ở xóm 7, xã K xuống khu vực ngã ba Q thuộc địa bàn xã H, huyện K gặp một người đàn ông không quen biết đứng ở bên đường, T hỏi và mua của người đàn ông này 02 gói Heroine với giá 500.000 đồng được gói ngoài bằng bạc màu trắng, T cất 02 gói nhỏ trong cạp quần lót phía trước rồi điều khiển xe mô tô quay về tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày khi T đi đến ngôi nhà hoang cạnh bờ đê thuộc địa bàn xóm 6, xã K, huyện Y để sử dụng ma túy thì gặp tổ công tác của Công an huyện Y làm nhiệm vụ bắt quả tang; kiểm tra thu giữ tại cạp quần lót phía trước của T 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận đó là Heroine do T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của T rồi mời người chứng kiến và đưa T cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã K để lập biên bản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành niêm phong chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Phạm Văn T, đánh ký hiệu M1 và M2 gửi đi để xác định trọng lượng giám định chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số: 17/KLGĐ - PC09 - MT ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,3969 gam, M2 có khối lượng 0,2096 gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 là 0,6065 gam đều là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, số thứ tự 9 Nghị định số 73/2018/NĐ - CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.
Cáo trạng số 07/CT - VKS - YK ngày 12/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 15/12/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha exciter màu xanh, BKS 35B2 - 175.6.. có số máy G3D4E - 397303, số khung RLCUG0610GY378700, kèm theo đăng ký xe mang tên Phạm Văn T do phòng cơ quan Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình cấp ngày 01/01/2017, xe đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 17/KL - PC09 – MT. Mặt ngoài phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Phạm Văn T, SN 1992 xảy ra ngày 15/12/2021, tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; mẫu vật hoàn trả gồm: M1= 0,2793 gam, M2 = 0,1289 gam đều là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong và 01 phong bì niêm phong ký hiệu N mặt ngoài phong bì ghi: “02 mảnh giấy bạc màu trắng dùng để gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ ban đầu của Phạm Văn T + Vỏ phong bì thư ký hiệu M”.
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên huyện Y trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về những chứng cứ xác định tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang; lời khai của người tham gia tố tụng; kết luận giám định chất ma túy thu giữ của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 15 tháng 12 năm 2021 tại ngôi nhà hoang cạnh bờ đê thuộc xóm 6, xã K, huyện Y, Phạm Văn T đã có hành vi cất giấu 0,6065 gam Heroine ở cạp quần lót phía trước với mục đích sử dụng cho bản thân đã bị phát hiện, bắt giữ. Tại Bản kết luận giám định số: 17/KLGĐ - PC09 - MT ngày 20/12/ 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 là 0,6065 gam đều là ma túy, loại Heroine.
Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy tùy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam.”
Như vậy về hành vi và khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn, ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Vì vậy các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Y đã đưa vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Phạm Văn T để điều tra, truy tố, xét xử theo chế độ án trọng điểm nhằm ngăn chặn phát sinh tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất hành vi phạm tộị, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ sự tác hại của ma túy nhưng bị cáo không từ bỏ, bị cáo thiếu ý thức chấp hành và coi thường pháp luật nên đã mua, cất giấu ma túy để sử dụng cho bản thân. Do vậy, cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm về ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh cho thấy bị cáo không có tài sản gì và là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi ở xã H, huyện K do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Excite màu xanh, BKS 35B2 - 175.6.. có số máy G3D4E - 397303, số khung RLCUG0610 GY378700, xe đã qua sử dụng, giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phạm Văn T do phòng cơ quan Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình cấp ngày 01/01/2017 và đã có căn cứ xác định được đây là tài sản riêng của bị cáo, do sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước. Đối với 01 phong bì Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình số 17/KL - PC09 - MT mặt ngoài phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Phạm Văn T, SN 1992 xảy ra ngày 15/12/2021, tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; mẫu vật hoàn trả gồm: M1= 0,2793 gam, M2 = 0,1289 gam đều là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì Công an huyện Y niêm phong ký hiệu N mặt ngoài phong bì ghi: “02 mảnh giấy bạc màu trắng dùng để gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ ban đầu của Phạm Văn T + Vỏ phong bì thư ký hiệu M”. Đây là số vật chứng cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án phí hình sự: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp án phí và quản lý sử dụng án phí.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, ngày 15 tháng 12 năm 2021.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Excite màu xanh, BKS 35B2-175.6.. có số máy G3D4E-397303, số khung RLCUG0610GY378700, xe có giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phạm Văn T do phòng cơ quan Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình cấp ngày 01/01/2017, xe cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình số 17/KL - PC09 - MT mặt ngoài phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Phạm Văn T, SN 1992 xảy ra ngày 15/12/2021, tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; mẫu vật hoàn trả gồm: M1= 0,2793 gam, M2 = 0,1289 gam đều là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì Công an huyện Y niêm phong ký hiệu N mặt ngoài phong bì ghi: “02 mảnh giấy bạc màu trắng dùng để gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ ban đầu của Phạm Văn T + Vỏ phong bì thư ký hiệu M”, là vật chứng của vụ án. Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Y.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Y; - Cơ quan CSĐT.CA huyện Y; - Cơ quan THAHS huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Nhật Trung. |