- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ch và đồng phạm Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ch 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg Về chế độ, chính sách đối với đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HS-ST Ngày: 13-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đậu Cao Nhu.
2. Bà Hồ Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021, đối với các bị cáo:
1, Họ và tên: Nguyễn Thị Ch (tên gọi khác: không); sinh năm: 1975 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Tuần A, xã Qu Ch, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Bá Tr và con bà: Phạm Thị N; chồng: Phan Sỹ Ng và 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 08/6/2021 đến ngày 14/6/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2, Họ và tên: Lê Thị Ph (tên gọi khác: không); sinh năm: 1998 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 2, xã Qu Ch, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Tuấn H và con bà: Hồ Thị H1; chồng: Trần Văn T và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh ngày 13/10/2020; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
3, Họ và tên: Hồ Trọng C (tên gọi khác: không); sinh năm: 1967 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 4, xã Ng S, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ (Tr) Th Trầm và con bà: Phạm Thị M; vợ: Nguyễn Thị B và 03 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 12/6/2021 đến ngày 15/6/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
4, Họ và tên: Hồ Thị Đ (tên gọi khác: không); sinh năm: 1972 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Sơn Thành, xã T H, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 8/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Quang Kh và con bà: Trương Thị T; chồng: Nguyễn Quang H2 và 04 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 13/6/2021 đến ngày 16/6/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
5, Họ và tên: Vũ Anh Ch1 (tên gọi khác: không); sinh năm: 1994 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm Thần Thiệu, xã Gia Tân, huyện Gi V, tỉnh Ninh Bình; Là: Đảng viên (bị đình chỉ sinh đoạt Đảng theo Quyết định số 37-QĐ/UBKTHU ngày 14/12/2021 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Gia Viễn); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn Th và con bà: Lã Thị Ng; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1997. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề, Nguyễn Thị Ch, Lê Thị Ph, Hồ Trọng C, Hồ Thị Đ và Vũ Anh Ch1 căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào lúc 18h15 phút hàng ngày. Đồng thời, quy định cách đánh và tỷ lệ thắng thua được tính như sau: người chơi chọn 2 chữ số trong dãy số từ 0 đến 9, để đánh đề, lô... Nếu người chơi trúng 02 số cuối của giải đặc biệt là trúng đề, tiền thưởng gấp 70 lần tiền cược. Nếu trúng 02 số cuối của tất cả các giải thưởng là trúng lô, 01 điểm lô trúng sẽ được 80.000 đồng. Chơi lô xiên: người chơi chọn đánh hai đến bốn cặp số (mỗi cặp số đều có hai chữ số), căn cứ vào hai chữ số cuối của tất cả các giải thưởng, nếu các cặp số mà người chơi đánh có trong các giải thưởng thì trúng lô xiên. Trúng lô xiên 2, người chơi được thưởng số tiền gấp 10 lần, trúng lô xiên 3 được thưởng số tiền gấp 40 lần, trúng lô xiên 4 được thưởng số tiền gấp 100 lần. Trong ngày 08/6/2021, Nguyễn Thị Ch, Lê Thị Ph, Hồ Trọng C, Hồ Thị Đ và Vũ Anh Ch1 sử dụng điện thoại nhắn tin đánh bạc với nhau, cụ thể:
Hành vi phạm tội của Vũ Anh Ch1: Ch1 sử dụng điện thoại di động Iphone 8 Plus đăng nhập tài khoản zalo “Vũ Anh Ch1” nhắn tin đến tài khoản zalo “Đại Lý Bánh Kẹo” của Lê Thị Ph1 đánh 100 điểm lô = 2.300.000 đồng và số xiên 2 = 200.000 đồng, tổng tiền đánh 2.500.000 đồng, Ch1 trúng lô 50 điểm = 4.000.000 đồng. Tổng số tiền Ch1 và Ph đánh bạc với nhau là 6.500.000 đồng. Ch1 và Ph chưa thanh toán tiền cho nhau.
Hành vi phạm tội của Hồ Trọng C: C sử dụng số thuê bao 0963768981 nhắn tin đến số thuê bao 0981990536 của Nguyễn Thị Ch đánh 71 số lô = 346,5 điểm = 7.623.000 đồng và 31 số đề = 436.000 đồng, tổng tiền đánh 8.059.000 đồng. C trúng 71,5 điểm lô = 5.720.000 đồng. Tổng số tiền C và Ch đánh bạc với nhau là 13.779.000 đồng. C và Ch chưa thanh toán tiền cho nhau.
Hành vi phạm tội của Hồ Thị Đ: Đ sử dụng điện thoại di động Iphone 6S gắn sim số thuê bao 0983414533 nhắn tin đến số 0981990536 của Nguyễn Thị Ch đánh 25 số lô = 175 điểm = 3.850.000 đồng, 06 số đề = 280.000 đồng, tổng tiền đánh 4.130.000 đồng. Đ trúng 65 điểm lô = 5.200.000 đồng. Tổng số tiền Đ và Ch đánh bạc với nhau là 9.330.000 đồng. Đ và Ch chưa thanh toán tiền cho nhau.
Hành vi phạm tội của Lê Thị Ph: Ph sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime gắn số thuê bao 0354591137 đăng nhập tài khoản zalo “Đại Lý Bánh Kẹo” đánh lô, số đề với một số người, cụ thể:
Đánh với Vũ Anh Ch1 số tiền 6.500.000 đồng.
Hồ Thị H nhắn tin đánh 4 số đề = 20.000 đồng, H không trúng thưởng.
Trần Thị H1 nhắn tin đánh 150 điểm lô = 3.450.000 đồng, đề = 520.000 đồng, tổng tiền đánh 3.970.000 đồng. H1 không trúng thưởng.
H2 sử dụng tài khoản zalo “Ông Sói” nhắn tin đánh 10 điểm lô = 230.000 đồng. H2 trúng 05 điểm lô = 400.000 đồng, tổng tiền đánh 630.000 đồng.
Đ sử dụng tài khoản zalo “Đạt Thao” nhắn tin đánh lô xiên 3 = 50.000 đồng, lô xiên 2 = 150.000 đồng, tổng tiền đánh 200.000 đồng. Đ không trúng thưởng.
Gi sử dụng tài khoản zalo “Giangka” nhắn tin đánh 30 điểm lô = 690.000 đồng, đề = 110.000 đồng, tổng tiền đánh 800.000 đồng. Gi trúng 20 điểm lô = 1.600.000 đồng, tổng tiền đánh 2.400.000 đồng.
Ch1, H, H1, H2, Đ, Gi và Ph chưa thanh toán tiền cho nhau.
Tr đến trực tiếp gặp Ph đánh 10 điểm lô = 230.000 đồng. Tr không trúng thưởng. Tr đã thanh toán tiền cho Ph.
Ngoài ra, Ph còn đánh bạc với một số người không rõ tên tuổi, địa chỉ với tổng số tiền đề 65.000 đồng, 20 điểm lô = 460.000 đồng, tổng tiền những người này đánh 525.000 đồng, đã thanh toán tiền đánh cho Ph. Một người trúng 10 điểm lô = 800.000 đồng, tổng tiền đánh bạc 1.325.000 đồng.
Sau khi nhận ghi các số lô, số đề trên, Ph tổng hợp lại ghi ra 01 (một) mảnh giấy rồi dùng điện thoại nhắn tin đến số 0981990536 cho Nguyễn Thị Ch: 320 điểm lô, 05 số lô xiên, 41 số đề = 8.575.000 đồng để hưởng hoa hồng 25% tiền đề và 1.000 đồng/1 điểm lô. Trong số lô, đề Ph chuyển cho Ch trúng 85 điểm lô = 6.800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Ph và Ch là 15.275.000 đồng.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Ch:
Đánh bạc với Hồ Trọng C 13.779.000 đồng.
Đánh bạc với Lê Thị Ph 15.275.000 đồng.
Đánh bạc với Hồ Thị Đ 9.330.000 đồng.
Đánh với Hồ Thị Ng: Ng sử dụng điện thoại Nokia gắn số thuê bao 0961148458 nhắn tin đến số thuê bao 0981990536 của Nguyễn Thị Ch đánh 137 điểm lô = 3.082.500 đồng, 152 số đề = 3.280.000 đồng, lô xiên = 340.000 đồng, tổng tiền đánh 6.702.500 đồng. Ng trúng thưởng 45 điểm lô = 3.600.000 đồng, trúng đề 700.000 đồng, tổng tiền đánh bạc giữa Ng và Ch là 11.002.500 đồng. Ng và Ch chưa thanh toán cho nhau.
Ngoài ra, Ch còn nhận tin nhắn từ các số thuê bao 0385180435, 0395192114, 0368045382, 0362804196, 0344514817 đánh 471 điểm lô = 10.362.000 đồng, 136 số đề = 4.820.000 đồng, xiên 2 = 680.000 đồng, tổng tiền đánh 15.862.000 đồng, các số thuê bao này trúng 155 điểm lô = 12.400.000 đồng, như vậy tổng tiền đánh bạc giữa Ch và những người sử dụng các số thuê bao trên là 28.262.000 đồng. Ch và những người này chưa thanh toán tiền cho nhau.
Nguyễn Thị Ch nhắn tin đến số thuê bao 0359861647 đánh 27 số đề = 3.350.000 đồng, lô xiên = 100.000 đồng, 560 điểm lô = 12.320.000 đồng, tổng tiền đánh 15.770.000 đồng. Chín không trúng thưởng. Chín và người sử dụng thuê bao này chưa thanh toán tiền cho nhau.
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị Ch đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề là 93.418.500 đồng.
Bản cáo trạng số 199/CT-VKS-QL ngày 06/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố: Nguyễn Thị Ch về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; Lê Thị Ph, Hồ Trọng C, Hồ Thị Đ và Vũ Anh Ch1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ch 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Lê Thị Ph từ 09-12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18-24 tháng, bị cáo Hồ Thị Đ từ 07-09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14-18 tháng.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Trọng C từ 08-10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16-20 tháng.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt: phạt tiền bị cáo Vũ Anh Ch1 số tiền từ 20.000.000 đồng – 22.000.000 đồng.
Hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ch từ 20.000.000 đồng – 22.000.000 đồng; các bị cáo Lê Thị Ph, Hồ Trọng C, Hồ Thị Đ, mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng – 12.000.000 đồng.
Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime màu xanh của Nguyễn Thị Ph, 01 (một) điện thoại di động Samsung GalaxyJ4 màu xanh đen của Nguyễn Thị Ch, 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S màu xám của Hồ Thị Đ và 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng Gol của Vũ Anh Ch1.
Án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng:
Bị cáo Nguyễn Thị Ch: rất hối hận với hành vi phạm tội do mình gây ra, xin giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo tại địa phương để có điều kiện nuôi con nhỏ.
Bị cáo Lê Thị Ph: xin giảm nhẹ hình phạt, xin được ở nhà để nuôi con.
Bị cáo Hồ Trọng C: xin giảm nhẹ hình phạt, hứa không bao giờ vì phạm nữa.
Bị cáo Hồ Thị Đ: xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Vũ Anh Ch1: từ trước tới nay bị cáo chưa bao giờ vi phạm gì nên rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Ch, Lê Thị Ph, Hồ Trọng C, Hồ Thị Đ và Vũ Anh Ch1 khai nhận: ngày 08/6/2021, các bị cáo sử dụng điện thoại di động nhắn tin, điện thoại đánh bạc với nhau bằng hình thức ghi số lô, số đề, Nguyễn Thị Ch đánh bạc với Ph, C, Đ, Hồ Thị Ng và một số người khác với tổng số tiền 93.418.500 đồng (chín mươi ba triệu bốn trăm mười tám nghìn năm trăm đồng); Lê Thị Ph đánh bạc với Ch, Ch1, Hồ Thị H, Trần Thị H1, H2, Đ, Gi, Tr và mốt số người khác với tổng số tiền 15.275.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); Hồ Trọng C đánh bạc với Ch với số tiền 13.779.000 đồng (mười ba triệu bảy trăm bảy mươi chín nghìn đồng); Hồ Thị Đn đánh bạc với Ch với tổng số tiền 9.330.000 đồng (chín triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng). Vũ Anh Ch1 đánh bạc với Ph với tổng số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản sự việc, trích sao tin nhắn trên điện thoại di động và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Các bị cáo không được nhà nước cho phép, có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Thực hiện hành vi với lỗi cố ý, vì mục đích thu lợi bất chính. Như vậy hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn Thị Ch phạm tội với tổng số tiền đánh bạc 93.418.500 đồng (bao gồm 50.098.500 đồng tiền đánh và 34.320.000 đồng tiền trúng thưởng) nên bị truy tố theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo Lê Thị Ph, Hồ Trọng C, Hồ Thị Đ và Vũ Anh Ch1 bị truy tố theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất nghiêm trọng và ít nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn, không có sự phân hóa vai trò, nên cần xem xét đến mức độ tham gia, số tiền sử dụng cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng người đồng phạm để cá thể hóa hình phạt cho phù hợp, như thế mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo Ch sử dụng tổng số tiền đánh bạc nhiều, phải chịu trách nhiệm chính, hình phạt phải cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, đều có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Ph, C, Đ, Ch1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. C, Đ đầu thú; bố mẹ của Phg, C là người có công (ông Lê Tuấn H được tặng thưởng Huân, Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, Huy chương quân kỳ quyết thắng; ông Hồ Thanh Tr được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất); bố của Đ (ông Hồ Quang Kh tham gia dân công hỏa tuyến); C có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế; Ch1 được Lữ Đoàn xe tăng 215 tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến năm 2019; Ch được Ủy ban nhân dân xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp tặng Giấy khen có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch Covid năm 2021.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội là người có công với cách mạng…” cho bị cáo Hồ Trọng C vì bị cáo C được hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, tuy nhiên Điều 35 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng quy định “Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến và được Nhà nước khen tặng Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến thắng, Huy chương Kháng chiến, Huy chương Chiến thắng”. Bị cáo C không được nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương nên không đủ điều kiện để được áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét thấy các bị cáo từ trước tới nay chưa có vi phạm pháp luật, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích. Bị cáo Ch1 sử dụng số tiền ít (tiền đánh 2.500.000 đồng, tiền trúng thưởng 4.000.000 đồng), có vai trò không đáng kể nên phạt tiền. Xử phạt các bị cáo với mức như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét trong quá trình điều tra không xác minh tình trạng kinh tế của các bị cáo, tại phiên tòa các bị cáo khai nhận do tình hình dịch bệnh, công việc lúc có lúc không, thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn, hơn nữa các bị cáo phạm tội chưa thu lợi, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Biện pháp tư pháp: các bị cáo sử dụng điện thoại làm phương tiện liên lạc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime màu xanh của Nguyễn Thị Ph, 01 (một) điện thoại di động Samsung GalaxyJ4 màu xanh đen của Nguyễn Thị Ch, 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S màu xám của Hồ Thị Đ và 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng Gol của Vũ Anh Ch1. Số tiền 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng), 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, 01 (một) điện thoại di động Iphone X màu trắng không liên quan đến hành vi phạm tội đã được trả lại cho Nguyễn Thị Ch. Số tiền người đánh đề đã trả cho bị cáo Lê Thị Ph 755.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, nên buộc bị cáo Ph phải nộp lại để tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
Về những vấn đề khác: Hồ Thị Ng xuất trình bệnh án tâm thần nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định và đưa đi giám định đến nay chưa có kết quả nên đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 01 ngày 11/11/2021 để xử lý sau. Hồ Thị H, Trần Thị H1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, số tiền đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên bị xử phạt vi phạm hành chính. Là đúng quy định của pháp luật. Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ hành vi của những người khác để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ch 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Về tội “Đánh bạc”.
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Lê Thị Ph 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng; bị cáo Hồ Trọng C 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng; bị cáo Hồ Thị Đ 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng. Về tội “Đánh bạc”.
Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo: Nguyễn Thị Ch và Lê Thị Ph cho Ủy ban nhân dân xã Qu Ch, Hồ Trọng C cho Ủy ban nhân dân xã Ng S, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Hồ Thị Đ cho Ủy ban nhân dân xã T H, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã và người được phân công trong việc giám sát, giáo dục người đó, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã khi có yêu cầu.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: phạt tiền bị cáo Vũ Anh Ch1 số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Về tội “Đánh bạc”.
2. Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime màu xanh của Nguyễn Thị Ph, 01 (một) điện thoại di động Samsung GalaxyJ4 màu xanh đen của Nguyễn Thị Ch, 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S màu xám của Hồ Thị Đ và 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng Gol của Vũ Anh Ch1 (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu ngày 08/12/2021).
Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 230.000đ (hai trăm ba mươi nghìn đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3591.0.9014412.00000 của Công an huyện Quỳnh Lưu tại Kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu theo Giấy nộp tiền ngày 14/11/2021.
Tịch thu, buộc bị cáo Lê Thị Ph phải nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội 525.000đ (năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.
3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Nguyễn Thị Ch, Lê Thị Ph, Hồ Trọng C, Hồ Thị Đ và Vũ Anh Ch1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CA huyện Quỳnh Lưu; - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu; - THA hình sự; - Sở Tư pháp; - UBND xã Qu Ch, T H, Gi V (để biết); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ + Lưu trữ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |