- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh Vương - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HSST Ngày 14 tháng 01 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Quyết Chiến
2. Bà Trần Thị Kim Khuyên
- Thư ký phiên toà: Bà Khương Thị Phượng– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2021/TLST-HS ngày ngày 23 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Minh V, sinh ngày 06/01/1994, tại tỉnh V.
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh V; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại chi bộ thôn Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh V, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 22/12/2021; bố đẻ: Bùi Đức V; mẹ đẻ: Nguyễn Thị H; vợ: Nguyễn Thị G; con: có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Khổng Thị Thanh H, sinh năm 1978 (đã chết)
- Người đại diện theo pháp luật cho bị hại: Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn C, xã X, huyện L, tỉnh V, có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn L, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh V, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Đặng Văn C, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh V, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2020, Bùi Minh V (có Giấy phép lái xe ô tô hạng C) là lái xe ô tô chở vật liệu thuê cho anh Trần Văn L (ở cùng xã) xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61. Sáng ngày 04/8/2021, anh L gọi điện cho V điều khiển xe ô tô đến Công ty Cổ phần công nghiệp Á Mỹ (địa chỉ: thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) lấy đất chở về Nhà máy gạch xã Yên Thạch (huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc). Sau đó, V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61 một mình từ nhà đi chở đất. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, V chở đất đi từ Công ty Á Mỹ về Nhà máy gạch Yên Thạch và đi trên đường TL305 theo hướng thị trấn Lập Thạch về khu vực ngã tư giao nhau giữa đường TL305 và TL306 (ngã tư Ngô Gia Tự). Khi đến trước ngã tư giao nhau giữa đường TL305 và TL306 thuộc tổ dân phố Phú Thượng, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc thì thấy có xe ô tô tải biển kiểm soát: 88C - 188.73 do Đặng Văn C điều khiển đi cùng chiều đang dừng đèn đỏ ở vạch dừng đèn đỏ. Lúc này, chị Khổng Thị Thanh H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 đi cùng chiều và vượt phía bên phải xe ô tô của anh C đang dừng đỗ để đi thẳng về hướng xã Xuân Lôi. Tại đường giao nhau này có biển chỉ dẫn được phép rẽ phải đi hướng xã Yên Thạch, xe ô tô V điều khiển lúc này đi tốc độ khoảng 35km/h vượt phía bên trái và tạt qua đầu xe ô tô của anh C để rẽ phải đi về hướng xã Yên Thạch, do V điều khiển xe đi vào nơi đường giao nhau, không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát, chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn và tầm nhìn bị hạn chế nên phần má lốp phía ngoài bánh trước bên phải xe ô tô V điều khiển va chạm vào đầu xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 do chị H đang điều khiển đi thẳng dẫn đến tai nạn, chị H bị cuốn vào gầm xe ô tô, lúc này V đạp phanh xe kéo trượt rê chị H trên mặt đường một đoạn thì dừng lại. Hậu quả, chị H bị tử vong tại hiện trường. Sau đó, V đi đến Công an huyện Lập Thạch đầu thú. Đến 18 giờ 35 phút cùng ngày tại Công an huyện Lập Thạch tiến hành thu giữ mẫu máu và mẫu nước tiểu của V để phục vụ công tác giám định.
* Khám nghiệm hiện trường xác định: nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại ngã tư giao nhau giữa đường TL305 và đường TL306 thuộc tổ dân phố Phú Thượng, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Mặt đường tại ngã tư này được trải áp phan khô ráo. Mép bên phải đường TL305 hướng từ thị trấn Lập Thạch đi xã Xuân Lôi giao cắt với đầu đường TL306 hướng đi xã YênThạch rộng 54m. Quá trình khám nghiệm theo hướng từ thị trấn Lập Thạch đi xã Xuân Lôi lấy mép bên phải đường TL305 giao cắt với đường TL306 hướng đi xã Yên Thạch có mép áp phan rõ ràng làm mép chuẩn. Lấy cột điện 1.12 TBA Đông Phú 1 ở bên phải đường TL305 làm mốc chuẩn và cách mép chuẩn là 7m. Trên hiện trường để lại 02 phương tiện và có các dấu vết sau:
- Số (06) là xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 phát hiện nằm đổ nghiêng bên trái trên mặt đường TL306 đầu xe hướng vào nhà dân bên phải đường TL306 theo hướng đi xã Yên Thạch, đuôi xe hướng ra đường TL305. Đo từ đầu trục trước xe mô tô đến mép chuẩn là 1,5m; đến mốc chuẩn là 6,4m. Đo từ đầu trục sau xe mô tô đến mép chuẩn là 94m, đến mốc chuẩn là 7,55m;
- Số (09) xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61 phát hiện đang dừng đỗ trên mặt đường TL306, đầu xe hướng đi xã Yên Thạch, đuôi xe hướng ra đường TL305. Đo từ đầu trục trước bên trái xe ô tô đến mép chuẩn là 4,1m đến mốc chuẩn là 9,4m. Đo từđầu trục sau bên trái xe ô tô đến mép chuẩn là 1,6m, đến mốc chuẩn là 8,8m.
- Số (07) là vết trượt mặt đường bám dính chất màu đen, mô cơ, vải sợi có kích thước dài 6,5m, rộng 0,57m phát hiện trên mặt đường TL306 hướng đi xã Yên Thạch có nửa bên phải bám dính nhiều mô cơ, nửa bên trái bám dính nhiều chất màu đen. Đo giữa đầu vết số 07 đến mép chuẩn là 0,3m, đến mốc chuẩn là 8,3m, đến đầu trục sau xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 là 1,45m. Đo từ giữa cuối vết 07 đến mép chuẩn là 3,8m, đến mốc chuẩn là 8,8m. Cuối vết 07 trùng với mặt lốp bánh sau bên phải xe ô tô (09);
- Số (08) tử thi Khổng Thị Thanh H phát hiện trên mặt đường TL306 trong tư thế nằm sấp, đầu hướng ra đường TL305, giáp mặt trước bánh sau bên phải xe (09); chân hướng ra nhà dân bên phải đường TL306 hướng đi xã Yên Thạch. Đo từ đầu tử thi đến mép chuẩn là 4m; đến mốc chuẩn là 9,3m. Đo từ đầu chân phải tử thi đến mép chuẩn là 5,4m; đến mốc chuẩn là 7,7m.
Quá trình khám nghiệm thu giữ mẫu máu của tử thi Khổng Thị Thanh H, đồng thời thu giữ camera an ninh tại khu vực ngã tư Ngô Gia Tự để phục vụ công tác giám định.
* Khám nghiệm phương tiện:
- Khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61 là loại xe ô tô tải, nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh; có số khung: A00257; có số máy: D08D5900400; Kích thước xe: dài 6,535m, rộng 2,5m và cao 2,810m xác định: Má lốp phía ngoài bánh trước bên phải có 02 vết trượt xước cao su: Vết thứ nhất giáp vành xe có kích thước (0,25x0,015)m có hướng ngược chiều bánh xe tiến, điểm đầu giáp vành xe và cách chân van 0,39m. Vết thứ hai có kích thước(0,23x0,015)m có chiều hướng ngược chiều bánh xe tiến điểm đầu cách chân van 0,29m; mặt ngoài đầu trước thanh kim loại phía trên khung bảo vệ bình hơi, ác quy có vết trượt sạch chất bẩn, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 0,69m; mặt lốp hai bánh phía sau bên phải có vết trượt cao su và bám dính chất mô cơ kích thước trên diện (0,58x0,40)m; hệ thống điều khiển, phanh, còi, đèn còn hoạt động bình thường.
* Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ- đen-bạc; có số khung: 3907HY309922; có số máy: JA39E0309944; Kích thước xe: (1,78x0,68x1,12)m, xác định: Gương chiếu hậu phía bên trái xe bị tuột rời để lại chân gương bị đẩy lệch từ trái sang phải, đầu trên chân gương có vết xước kim loại kích thước (0,005x0,005)m; Cạnh trước đầu tay nắm lái bên trái xe có vết mài xước kim loại và cao su kích thước trên diện (0,03x0,02)m; Cạnh trước đầu trục bên trái bánh trước có vết xước kim loại trên diện (0,01x0,01)m bám dính đất bẩn; Mép ngoài cánh yếm bên trái xe có vết xước trên diện (0,11x0,005)m; Bàn để chân trước phía bên trái lệch từ trước về sau, đầu ngoài có vết rách cao su và mài xước kim loại kích thước (0.02x0,01)m.
* Khám nghiệm tử thi: Tại kết luận pháp y về tử thi số 87/TT ngày 17/8/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“Nhiều vết xây sát da và vết thương rách da cơ, ít vết bào da, chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, vỡ xương sọ vùng trán trái xuống tới gò má trái, dập vỡ xương khớp vai trái, chấn thương lồng ngực, gãy xương đòn phải trái, gãy toàn tộ cung xương sườn hai bên, xương ức thành nhiều đoạn, chấn thương cột sống, gãy nhiều đốt sống lưng, chấn thương bụng, dập vỡ nát phủ tạng bên trái, dập vỡ thận trái, dập vỡ lách, gãy cổ xương đùi trái. Nguyên nhân chết của Khổng Thị Thanh H: Sốc đa chấn thương không hồi phục”.
* Giám định nồng độ cồn, ma túy: Tại Kết luận giám định số 1968 ngày 12/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:” Không phát hiện thành phần các chất ma túy thường gặp trong mẫu nước tiểu thu của Bùi Minh V”; Tại kết luận giám định số 1969 ngày 12/8/2021của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Không tìm thấy cồn (Ethanol) trong mẫu máu thu của Bùi Minh V”; Tại kết luận giám định số 1967 ngày 11/8/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Không tìm thấy cồn (Ethanol) trong mẫu máu thu của tử thi Khổng Thị Thanh H”; Tại kết luận giám định số 1987 ngày ngày 13/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Không phát hiện thành phần các chất ma túy thường gặp trong mẫu máu thu của tử thi Khổng Thị Thanh H”.
*Giám định hình ảnh: Tại kết luận giám định số 2088/KLGĐ ngày 26/8/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Chụp được 11 (mười một) ảnh thể hiện diễn biến vụ tai nạn giao thông xuất hiện trên tệp video gửi giám định, phù hợp với lời khai và quá trình di chuyển của Bùi Minh Vương.
* Định giá tài sản: Tại Kết luận số 515 ngày 23/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lập Thạch kết luận: giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61 là 00 đồng, xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 là 280.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 3GB màu trắng là 3.490.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- Thu giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61 (kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô); 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 (kèm theo Chứng nhận đăng ký xe mô tô trên); Giấy phép lái xe số: 261206002472 mang tên Khổng Thị Thanh H và điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu trắng, điện thoại này bị hư hỏng; 01 giấy phép lái xe ô tô số 260169013082, hạng C do Sở Giao thông vận tải Vĩnh Phúc cấp ngày 23/8/2016 mang tên Bùi Minh V;
- Mẫu trả sau giám định là 01 (một) đĩa DVD, có lưu 01 (một) tệp tin video có tên: 3706962950725700089.mp4, dung lượng: 6.31MB (6,619,020 bytes);
- Mẫu trả sau giám định theo Kết luận giám định số 2022/KLGĐ ngày 18/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Bùi Minh V và anh Trần Văn L (chủ xe) đã bồi thường cho gia đình bị hại (Khổng Thị Thanh H) tổng số tiền là 210.000.000 đồng bao gồm: tiền mai táng phí: 47.500.000 đồng, tổn thất tinh thần, tính mạng: 50.000.000 đồng, tiền sửa chữa xe mô tô và điện thoại bị hỏng: 3.770.000 đồng, còn lại là tiền cấp dưỡng nuôi 02 con của chị H chưa đủ 18 tuổi và các tài sản bị hư hỏng, đại diện của gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 05/CT- VKS-LT ngày 22 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Bùi Minh V về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Bùi Minh V, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giḠtính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Bùi Minh V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng: Điểm a Khoản 1, Khoản 5 Điều 260, Điểm b, v, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1, 2, 5 Điều 65, Điều 41 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo 1 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; xác nhận bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại và xử lý vật chứng vụ án; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có lời bào chữa, bổ sung nào khác.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng: đại diện của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không ai có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: không có ý kiến gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy: tại phiên tòa ông Nguyễn Văn T (chồng của bị hại) xác định tự trình bày, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được, không đề nghị ông T1 tiếp tục là người đại diện theo ủy quyền của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không xác định ông T1 là người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại.
Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Minh V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kiểm điểm của bị cáo; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, sơ đồ vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn, bản ảnh chụp tại hiện trường, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2021, Bùi Minh V một mình điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 014.61 chở đất từ Công ty Á Mỹ về Nhà máy gạch Yên Thạch, V đi trên đường TL305 và theo hướng thị trấn Lập Thạch về khu vực ngã tư giao nhau giữa đường TL305 và TL306 V điều khiển xe với tốc độ khoảng 35km/giờ. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường TL305 và TL306 thuộc tổ dân phố Phú Thượng, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc V điều khiển xe ô tô vượt bên trái xe ô tô tải biển kiểm soát: 88C - 188.73 do Đặng Văn C điều khiển đang dừng đèn đỏ ở vạch dừng đèn đỏ cùng chiều, và rẽ về bên phải qua đầu xe ô tô anh C, do V điều khiển xe đi vào nơi đường giao nhau, không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát, chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn và tầm nhìn bị hạn chế nên phần má lốp phía ngoài bánh trước bên phải xe ô tô V điều khiển va chạm vào đầu xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 do chị H đang điều khiển đi thẳng, dẫn đến tai nạn, chị H bị cuốn vào gầm xe ô tô, lúc này V đạp phanh xe kéo trượt rê chị H trên mặt đường một đoạn thì dừng lại. Hậu quả, chị H bị tử vong tại hiện trường. Lỗi thuộc về Bùi Minh V.
Hành vi nêu trên của Bùi Minh V đã vi phạm điểm d, khoản 5 Điều 14 và Khoản 1 Điều 15, Luật giao thông đường bộ; Khoản 2, 3 Điều 5 Thông tư 31/2015/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải.
Điểm d, khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định về vượt xe: “5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:... d) Nơi đường giao nhau...”
Khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định về chuyển hướng xe:“ 1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ...”.
Khoản 2, 3 Điều 5 Chương I Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về Các trường hợp phải giảm tốc độ: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:...
2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức ...”
Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận Bùi Minh V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự .
Điều luật quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a/ Làm chết người;”
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tới tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng tới cuộc sống của gia đình người bị hại cũng như của gia đình bị cáo, gây tâm lý hoang mang đối với người tham gia giao thông. Hơn nữa, trong thời gian gần đây tình hình các vụ tai nạn giao thông ngày một tăng lên và một phần nguyên nhân là do sự thiếu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của một bộ phận người tham gia giao thông nên cần xử lý nghiêm minh đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, bị cáo được xác định là người chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra , đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại ; thành khẩn khai bá o , ăn năn hố i cải về hành vi phạm tội của bản thân , bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và được Cục kỹ thuật - Bộ Tư lệnh đặc công tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2014. Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã đến Công an huyện Lập Thạch đầu thú, bị hại có một phần lỗi khi tham gia giao thông không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo đượ c á p dụ ng các tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhi ệm hình sự quy định tại Điể m b, v, s Khoản 1, Khoản 2 điề u 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Sau khi xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng: bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không gây khó khăn cho quá trình điều tra. Do vậy, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách nhất định dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo có giấy phép lái xe hạng C, hành nghề lái xe. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án:
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 210.000.000 đồng. Xét, sự thỏa thuận của bị cáo và gia đình bị hại là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức, xã hội nên cần được chấp nhận. Nay gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và các bên không yêu cầu, đề nghị gì thêm nên vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61 (kèm theo Giấy chứngnhận đăng ký xe ô tô) quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn L. Ngày 28/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch đã cho anh Trần Văn L là có căn cứ cần xác nhận.
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 (kèm theo Chứng nhận đăng ký xe mô tô trên); Giấy phép lái xe số: 261206002472 mang tên Khổng Thị Thanh H và điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu trắng, điện thoại này bị hư hỏng là tài sản hợp pháp của chị H. Ngày 16/9/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch đã trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là có căn cần xác nhận.
- 01 giấy phép lái xe ô tô số 260169013082, hạng C do Sở Giao thông vận tải Vĩnh Phúc cấp ngày 23/8/2016 mang tên Bùi Minh V cần xem xét trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Mẫu trả sau giám định là 01 (một) đĩa DVD, có lưu 01 (một) tệp tin video có tên: 3706962950725700089.mp4, dung lượng: 6.31MB (6,619,020 bytes) là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo V nên cần lưu hồ sơ vụ án;
- Mẫu trả sau giám định theo Kết luận giám định số 2022/KLGĐ ngày 18/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Bùi Minh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm a Khoản 1, Khoản 5 Điều 260; Điểm b, v, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, Khoản 2, Khoản 5 Điều 65, Điều 41 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Đồng Thịnh, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Đ, huyện S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo là 1 (một) năm, thời hạn cấm hành nghề lái xe tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số 260169013082, hạng C do Sở Giao thông vận tải Vĩnh Phúc cấp ngày 23/8/2016 mang tên Bùi Minh V nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu trả sau giám định theo Kết luận giám định số 2022/KLGĐ ngày 18/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/12/2021)
- Lưu hồ sơ vụ án mẫu trả sau giám định là 01 (một) đĩa DVD, có lưu 01 (một) tệp tin video có tên: 3706962950725700089.mp4, dung lượng: 6.31MB (6,619,020 bytes);
Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho: anh Trần Văn L 01 xe ô tô biển kiểm soát: 20C - 014.61 (kèm theo Giấy chứngnhận đăng ký xe ô tô) và gia đình bị hại 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88D1 - 336.71 (kèm theo Chứng nhận đăng ký xe mô tô trên); Giấy phép lái xe số: 261206002472 mang tên Khổng Thị Thanh H và điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu trắng, điện thoại này bị hư hỏng.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS Lập Thạch; - Công an huyện Lập Thạch; - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc; - UBND xã Đ, huyện S; - Bị cáo; Người đại diện bị hại; Người có QL-NVLQ; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Thị Nga |