vanban.org

Bản án 05/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 14/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt Nguyễn Văn V 09 (Chín) tháng tù. Chuyển 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 28/2020/HSST ngày 18/5/2020 của Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thành 11 tháng tù giam. Tổng hợp buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2022/HSST
Ngày 14/01/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoằng; ông Nguyễn Xuân Tung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2021/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2021, Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 119/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Văn V, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đỗ Thị H; vợ: Kiều Thị H, con: Có 02 con, con lớn SN 2006, con nhỏ SN 2011; tiền án: Ngày 18/5/2020 bị Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam xử phạt 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 22 tháng về tội “Đánh bạc”; ngày 23/8/2021 được rút ngắn thời gian thử thách án treo 03 tháng; Tiền sự: Không; tạm giam, tạm giữ: Không; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1984 (vắng mặt); anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt); anh Nguyễn Đức P, sinh năm 1981 (vắng mặt); anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt); đều nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 24/9/2021 tại cửa hàng sửa xe máy Đ của Phạm Văn C ở tổ dân phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Phạm Văn C, Nguyễn Đức P, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ ngồi uống nước nói chuyện thì P nói “Mưa gió mấy anh em làm ván bài”, hiểu ý P rủ đánh bạc dưới hình thức đánh sâm lốc nên mọi người đồng ý. Sau đó, P lấy bộ bài đặt xuống bàn rồi cùng Đ, T, C đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh sâm lốc. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn V đến đánh bạc cùng.

Theo quy ước của những người đánh bạc dưới hình thức chơi “Sâm lốc” thì người chơi dùng bộ bài tú lơ khơ 52 quân để chơi, mỗi ván người chơi sẽ được chia cho 10 lá bài, người đánh sau sẽ lần lượt chặn bài người đánh trước bằng lá bài, đôi, sáp, tứ quý hoặc sảnh. Thứ tự lá bài từ yếu đến mạnh là: 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A, 2. Lá bài lẻ chặn lá bài lẻ (lá bài sau phải lớn hơn lá bài trước), đôi chặn đôi (đôi sau phải lớn hơn đôi trước), sáp chặn sáp (bộ gồm 3 lá bài cùng số, sáp đánh sau phải lớn hơn), tứ quý chặn tứ quý (01 bộ tứ quý bất kỳ có thể chặn được quân 2, 02 bộ tứ quý sẽ được chặn được đôi 2), sảnh chặn sảnh (bộ gồm các quân bài có thứ tự liên tiếp, độ dài của sảnh phải từ 3 lá bài trở lên, sảnh sau phải lớn hơn sảnh trước, sảnh nhỏ nhất bắt đầu từ A, sảnh lớn nhất kết thúc cũng bằng A, không có sảnh K,A,2), tứ quý chặn tứ quý (tứ quý sau phải lớn hơn tứ quý trước). Khi đánh bài ra mà không có ai chặn được thì người chơi sẽ được đánh tiếp, nếu chỉ còn 1 quân bài trên tay thì người chơi phải “báo”, ai hết bài trước thì người đó về nhất và sẽ thắng, những người còn lại bị thua và bị mất số tiền tương ứng với số lá bài còn lại trên tay (mỗi lá là 5.000 đồng) cho người thắng ván đó. Người thắng được chia bài và đánh trước ván kế tiếp. Người chơi có thể “xin sâm” và giành quyền đánh bài trước, nếu “xin sâm” thành C (đánh hết bài mà không ai chặn được) thì người chơi này thắng ván đó và được của những người còn lại mỗi người 100.000 đồng, nếu “xin sâm” (có người khác chặn được bài) thì người chơi sẽ phải đền tiền cho cả làng mỗi người 100.000 đồng. Ngoài ra trong ván chơi người chơi mà không đánh được lá bài nào trong 1 ván chơi thì bị coi là “móm” và bị mất số tiền 70.000 đồng cho người thắng ván đó.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/9/2021, khi các đối tượng trên đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an thị xã Duy Tiên phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ tú lơ khơ đủ 52 quân bài; 01 bàn nhựa màu xanh ghi chữ Việt Nhật; 05 chiếc ghế nhựa màu xanh ghi chữ Việt Nhật; Thu trên người của Nguyễn Văn Đ số tiền 1.540.000 đồng; Thu trên người của Nguyễn Đức P số tiền 540.000 đồng; Thu trên người của Nguyễn Văn V số tiền 1.000.000 đồng; Thu trên người của Nguyễn Văn T số tiền 160.000 đồng; Thu trên người của Phạm Văn C số tiền 130.000 đồng.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn V và các đối tượng đã thành khẩn khai nhận về hành vi đánh bạc như sau: Nguyễn Văn V khai nhận: Khi tham gia đánh bạc V có 1.000.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị bắt V đang hòa. Nguyễn Văn Đ khai nhận: Khi tham gia đánh bạc Đ có 1.500.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị bắt Đ đang thắng bạc được số tiền 40.000 đồng. Nguyễn Đức P khai nhận: Khi tham gia đánh bạc P có 510.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị bắt P đang thắng bạc được số tiền 30.000 đồng. Nguyễn Văn T khai nhận: Khi tham gia đánh bạc T có 160.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị bắt T đang hòa. Phạm Văn C khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, C có 200.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị bắt C thua bạc 70.000 đồng

Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 18/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn V từ 9 đến 12 tháng tù về tội đánh bạc; chuyển hình phạt 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 11 tháng tù giam, tổng hợp buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân; Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 bàn nhựa; 05 chiếc ghế nhựa; số tiền 3.370.000đ và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận Đ như sau:

Về hành vi, quyết Đ tố tụng của Cơ quan điều tra C an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy Đ của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết Đ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác Đ các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 24/9/2021, tại quán sửa xe máy của Phạm Văn C ở tổ dân phố N, phường B, thị xã D, các đối tượng Nguyễn Văn V, Nguyễn Đức P, Phạm Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T có hành vi đánh bạc, được thua bằng tiền dưới hình thức chơi sâm lốc. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/9/2021 thì bị lực lượng C an thị xã Duy Tiên phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc chứng minh được là 3.370.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự C cộng, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù số tiền bị cáo dùng để đánh bạc dưới 05 triệu đồng nhưng bị cáo đang có tiền án về tội đánh bạc (ngày 18/5/2020 bị Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xử phạt 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 22 tháng về tội “Đánh bạc”, ngày 23/8/2021 được rút ngắn thời gian thử thách án treo 03 tháng) vì thế hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt quy Đ tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu; mặc dù bị cáo có tiền án nhưng đã được dùng làm tình tiết Đ tội nên không tính tái phạm đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy mặc dù đã bị kết án nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện vì thế cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo; chuyển hình phạt 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 11 tháng tù giam, tổng hợp buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với các hành vi khác: Đối với Phạm Văn C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đức P và Nguyễn Văn Đ có hành vi đánh bạc, do số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên C an thị xã Duy Tiên đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng.

Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 bộ bài 52 quân là C cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với số tiền 3.370.000đ; 01 bàn nhựa; 05 chiếc ghế nhựa là C cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy Đ.

Từ nhận Đ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt Nguyễn Văn V 09 (Chín) tháng tù.

Chuyển 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 28/2020/HSST ngày 18/5/2020 của Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thành 11 tháng tù giam. Tổng hợp buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 (Hai mươi) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án số 28/HSST ngày 18/5/2020 (từ ngày 04/3/2020 đến ngày 13/3/2020). Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 bàn nhựa; 05 chiếc ghế nhựa; số tiền 3.370.000đ (Ba triệu ba trăm bẩy mươi ngàn đồng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ