vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bi ̣ cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Lê Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/9/2021. 2/ Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/01/2022) để đảm bảo cho việc khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Tuấn pham tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bi ̣ cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH L
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày 17 – 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.

Bà Nguyễn Thị Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

- Lê Văn T, sinh năm 1992 tại L.

Nơi cư trú: Ấp 4, xã M, huyện Th, tỉnh L; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L và bà Phan Thị Bé H; Vợ tên Đỗ Bảo Y, sinh năm 1993 (Đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2012.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 13/5/2020 UBND xã M, huyện Th áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Nhân thân:

- Ngày 02/3/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh L xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 04/4/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 04/10/2016 bị Công an xã MP, huyện Th, tỉnh L xử phạt 750.000đ vể hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 24/10/2016 bị Công an xã MP, huyện Th, tỉnh L xử phạt 1.500.000đ vể hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 09/12/2016 bị Công an xã MP, huyện Th, tỉnh L xử phạt 750.000đ vể hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 17/01/2017 bị Ủy ban nhân dân xã M, huyện Th áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 17/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Th áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/9/2021 đến ngày 14/9/2021 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phi K, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 106B/2, đường Nguyễn Cửu V, Phường x, thành phố T, tỉnh L (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/9/2021, tại phòng trọ số 01B, Phường 4, thành phố T, Lê Văn T dùng điện thoại di động của mình gọi cho đối tượng tên XL (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 500.000đ ma túy đá về sử dụng và xin thiếu nợ lại khi nào có tiền thì trả. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Nguyễn Phi K điều khiển xe mô tô 62F3-1523 đến phòng trọ của Tuấn chơi nên Tuấn hỏi mượn xe môtô trên để đi lấy ma túy. Khi hỏi mượn xe, Tuấn nói mượn đi công việc nên Kiệt đồng ý cho mượn. Khi Tuấn điều khiển xe đến trước số nhà 65, đường Hùng Vương, Phường 6, thành phố T thì gặp chốt kiểm dịch (do đang trong thời gian giãn cách xã hội phòng dịch Covid-19) nên lực lượng bảo vệ không cho đi, Tuấn mới xin lực lượng bảo vệ cho qua để lấy đồ ăn nên lực lượng bảo vệ cho qua, nhưng yêu cầu để xe môtô lại chốt. Sau đó, Tuấn đi bộ qua hẻm số 57, đường Huỳnh Văn G, Phường Y, thành phố T vào nhà gặp XL và được XL đưa 01 gói ma túy đá. Tuấn bỏ gói ma túy vừa mua vào trong túi quần bên phải, rồi đi bộ trở ra chốt kiểm dịch để lấy xe môtô. Khoảng 09 giờ 30 phút Tuấn tới chốt kiểm dịch thì bị lực lượng làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện Tuấn đang cất giữ gói ma túy trong túi quần bên phải nên lập biên bản bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nylon màu trắng, được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong.

- 01 xe mô tô, biển số 62F3-1523.

- 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đỏ.

Tại kết luận giám định số 747/2021/KLGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2021 kết luận như sau: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,5756 gam, loại: Methamphetamine.

Cáo trạng số 01/CT-VKSTA-HS ngày 02/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định và không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Xe mô 62F3-1523, qua xác minh được biết, biển số 62F3-1523 là của xe mô tô hiệu DAYANG, có số khung: DY100-1203964, số máy: 150FM-1203964 do ông Nguyễn Sung T là người chủ sở hữu. Qua xác minh tại nơi cư trú thì ông Tài không còn sinh sống ở địa phương. Còn chiếc xe mô tô tạm giữ có số khung: CLWBTCJ30371025782, số máy: WH125QMIA07E00004, qua xác minh xe môtô này chưa được đăng ký lưu hành theo quy định. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý sau.

- Ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,5756 gam, qua giám định còn lại 0,4077 gam được đóng gói niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh L đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại đi động hiệu Realme màu đỏ đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phi K vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Lê Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 06/9/2021 tại trước số nhà 65, đường Hùng Vương, Phường 6, thành phố T, tỉnh L. Công an Phường 6 tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Lê Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,5756gam loại Methamphetamine. Do đó, đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo ý thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu: 02 lần bị Tòa án kết án về hành vi trộm cắp tài sản, nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên không thấy đó là bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không nhằm mục đích thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Xe mô 62F3-1523, qua xác minh được biết, biển số 62F3-1523 là của xe mô tô hiệu DAYANG, có số khung: DY100-1203964, số máy: 150FM-1203964 do ông Nguyễn Sung T là người chủ sở hữu. Qua xác minh tại nơi cư trú thì ông Tài không còn sinh sống ở địa phương. Còn chiếc xe mô tô tạm giữ có số khung: CLWBTCJ30371025782, số máy: WH125QMIA07E00004, qua xác minh xe mô tô này chưa được đăng ký lưu hành theo quy định. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,5756 gam, qua giám định còn lại 0,4077 gam được đóng gói niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh L số 747 ngày 13/9/2021 là vật cấm tàng trữ nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ mà bị cáo dùng liên lạc với đối tượng tên XL để mua ma túy, hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ.

Đối với đối tượng XL, người bán ma túy cho Tuấn. Qua điều tra xác định là Nguyễn Thanh Liêm, sinh năm 1993, ngụ 57/9B Huỳnh Văn Gấm, Phường 2, thành phố T, nhưng hiện tại Liêm không có mặt tại địa chỉ trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Đối với Nguyễn Phi K đã cho Tuấn mượn xe mô tô 62F3-1523, tuy nhiên Kiệt không biết Tuấn mượn xe mô tô trên đi mua ma túy nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Kiệt.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chi ̣u án phi hinh sự sơ

́ ̀ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bi ̣ cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Lê Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/9/2021.

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/01/2022) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,5756 gam, qua giám định còn lại 0,4077gam được đóng gói niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L số 747 ngày 13/9/2021.

- Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đỏ

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh L đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ