vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t : Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2

̀ Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Nguyễn Hồng T 66 (sáu mươi sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cương Tịnh TTTPMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t : Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày 24-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Minh Hằng

Ông Nguyễn Văn Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại tru ̣ sở Tòa án nhân dân quâ ̣n Hải An , thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Hồng T, sinh năm 1995, tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 1+3E, CT 1, A17 V, N, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ văn hoá : Lớ p 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng Thành và bà Vũ Thị Thảo; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ là Nguyễn Hoài Thu, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 12 năm 2021, đến ngày 17 tháng 12 năm 2021 chuyển tạm giam. Vắng mặt.

2. Hoàng Tiến C, sinh năm 1997, tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 20/421 L, N, Hải Phòng; chỗ ở: Ngõ 27 C, A, A, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớ p 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Tiến Hùng và bà Vũ Thị Minh; bị cáo là con một, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 12 năm 2021, đến ngày 17 tháng 12 năm 2021 chuyển tạm giam. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Tuấn A. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Mạnh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 22 giờ 22 phút ngày 13/12/2021, Nguyễn Hồng T gọi điện thoại cho Hoàng Tiến C hỏi “có biết chỗ lấy đồ không”, ý T muốn hỏi là “có biết chỗ bán ma túy không”, C trả lời “để em vào đường tàu hỏi”. T nói “thế thì lấy hộ anh 15 viên ma túy tổng hợp và 08 gam ma túy Ketamine”, C trả lời “để em hỏi đã”. Sau đó, C một mình điều khiển xe mo tô nhãn hiệu AirBlade biển kiểm soát số 15B-190.84 từ khu vực ngõ 27 Cái Tắt, An Đồng, An Dương, Hải Phòng đến đường tàu Cầu Đất thuộc quận Lê Chân, Hải Phòng để mua 01 túi nilon có chứa 15 viên ma túy tổng hợp và 01 túi nilon trong có đựng 08 túi linon chứa ma túy Ketamine với giá giá 6.000.000 đồng của một người nam giới (không xác định được lai lịch, địa chỉ). Sau khi mua được ma túy, C mang đến khu vực đã hẹn với Thịnh tại khu Bình Kiều 1, Đông Hải 2, Hải An, Hải Phòng để đưa cho T. Khi gặp nhau, C trở T vào ngõ 473 đường Đông Hải, Đông Hải 2, Hải An, Hải Phòng và đưa số ma túy đã mua được cho T. T cầm số ma túy cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, C trở T đến khu vực trước cửa nhà 3/461 Bình Kiều 1, Đông Hải 2, Hải An, Hải Phòng thì bị Tổ công tác số 3 phòng Cảnh sát cơ động- Công an thành phố Hải Phòng phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã đưa T, C cùng tang vật về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 túi nilon có kích thước 5 x 6 cm trong có chứa 15 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp (mẫu 1).

- 01 túi nilon kích thước 5 x 6 cm trong có đựng 08 túi nilon kích thước 2 x 3 cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi ma túy Ketamine (mẫu 2).

- 01 xe mô tô nhãn hiệu AirBlade BKS: 15B4-190.84.

- 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, kiểu máy Iphone 11 Promax của Nguyễn Hồng T.

- 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng, kiểu máy Iphone 6 của Hoàng Tiến C.

Tại Kết luận giám định số 647/KLGĐ-MT ngày 14/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

1. Các viên nén màu hồng của mẫu 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,94 gam, là loại MDMA.

2. Tinh thể màu trắng của mẫu 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,03 gam là loại Ketamine.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 13/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Hồng T và Hoàng Tiến C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo T và C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với xã hội làm ăn lương thiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 60 tháng đến 72 tháng tù ; xử phạt bị cáo C mức án từ 60 tháng đến 72 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và xét bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 niêm phong bằng bì thư có dấu niêm phong số 647MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an thành phố Hải Phòng;

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone thu giữ của Nguyễn Hồng T và 01 điện thoại di động Iphone thu giữ của Hoàng Tiến C.

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu AirBlade BKS: 15B4-190.84 thu giữ của Hoàng Tiến C: C khai chiếc xe trên là của ông Hoàng Tiến H (là bố đẻ của Cường), khi C lấy xe đi, C không nói với ông H đi mua ma túy. Qua điều tra, xác minh xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là của ông Hoàng Tiến H nên cơ qua điều tra đã trả chiếc xe trên cho ông Hùng.

+ Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Tiến C, qua điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ xử lý sau.

+ Đối với ông Hoàng Tiến H, khi C lấy xe mô tô BKS: 15B4-190.84 đi, ông Hùng không biết C đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bi ̣ cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phi

́ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hồng T và Hoàng Tiến C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét sự vắng mặt của bị cáo T và C không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng các bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An , Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo T và C vắng mặt, nhưng căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Hội đồng xét xử thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13/12/2021, Nguyễn Hồng T, Hoàng Tiến C có hành vi cất giữ trái phép 6,94 gam MDMA (có tỷ lệ phần trăm về khối lượng 23,1%) và 7,06 gam Ketamin (có tỷ lệ phần trăm về khối lượng 7%). Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của hai chất ma túy trên là 30,1%. Đây là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27 và danh mục III, STT: 35 của Ngh ị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Các bị cáo đều người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi đó của các bị cáo đã đồng phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" vi phạm Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Về định khung hình phạt: Căn cứ vào khối lượng ma túy các bị cáo cất giấu, xác định hành vi của các bị cáo đã đồng phạm vào điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp , đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy , xâm phạm trật tự an toàn xã hội, do vậy cần phải được xử lý nghiêm và cần buô ̣c bi ̣ cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tinh tiết

̀ tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

̀

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo. Tuy các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và tỏ ra ăn năn hối cải. Mặt khác, bị cáo T có bố đẻ là bộ đội xuất ngũ, bị cáo C có bà nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do đó, các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án; tiền sự; phạm tội lần đầu. Do vậy, cần xem xét nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt, đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét vai trò thực hiện tội phạm của từng bị cáo: Các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất thực hiện tội phạm từ trước nên các bị cáo đồng phạm tội mang tính chất giản đơn. Bị cáo Tlà người khởi xướng; bị cáo C là người thực hiện tội phạm. Do đó, vai trò của các bị cáo là ngang nhau. Mặt khác, các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nhau. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là bằng nhau.

Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bi ̣ cáo gây nên , căn cứ quy định pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân , Hô ̣i đồng xét xử thấy cần xử phạt bị các cáo mức hình phạt tù thích hợp mới đảm bảo mục đích nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có việc làm ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là pha ̣t tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Xét 01 bì thư niêm phong có dấu niêm phong số 647MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định là chất mà Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, kiểu máy Iphone 11 Promax của Nguyễn Hồng T và 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng, kiểu máy Iphone 6 của Hoàng Tiến C. Do các bị cáo đã sử dụng những điện thoại này liên lạc với nhau để mua ma túy. Xét thấy đây là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu AirBlade BKS: 15B4-190.84 thu giữ của Hoàng Tiến C. Qua điều tra xác định xe của ông Hoàng Tiến H (là bố đẻ của Cường), khi C lấy xe đi, ông H không biết dùng vào việc mua ma túy nên cơ qua điều tra đã trả chiếc xe trên cho ông H là phù hợp quy định của pháp luật.

+ Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho C, qua điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

+ Đối với ông Hoàng Tiến H, khi C lấy xe mô tô BKS: 15B4-190.84 đi, ông H không biết C đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t : Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2

̀ Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo:

- Nguyễn Hồng T 66 (sáu mươi sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2021.

- Hoàng Tiến C 66 (sáu mươi sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2021.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Hồng T và Hoàng Tiến C.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong số 647MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng;

- Tịch thu nộp, ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, kiểu máy Iphone 11 Promax của Nguyễn Hồng T và 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng, kiểu máy Iphone 6 của Hoàng Tiến C.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An và Chi cục Thi hành án dân sự qu ận Hải An , thành phố Hải Phòng.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Buô ̣c Nguyễn Hồng T và Hoàng Tiến C mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ