- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 cân tiểu ly màu nâu, 02 dao lam, 50 mảnh giấy trắng, 01 bìa cacton cứng.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HS-ST Ngày 22-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Thư
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Mai Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Đặng Văn T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10 tháng 5 năm 2021, chuyển tạm giam từ ngày 18 tháng 5 năm 2021 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 10 tháng 5 năm 2021, tổ công tác Công an huyện A kết hợp Công an xã L làm nhiệm vụ tại khu vực thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng phát hiện, bắt quả tang Đặng Văn T đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại nhà T. Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đặng Văn T 01 túi nilon màu trắng, kích thước 04x06cm bên trong chứa chất bột màu trắng (QT01) và 01 túi nilon màu trắng kích thước 6x8cm, bên trong chứa 05 túi nilon màu trắng có kích thước lần lượt mỗi túi 1x2cm, 2x3cm, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng (QT02); Thu giữ 02 gói giấy màu trắng, kích thước trung bình mỗi gói 0,5 x 1,5cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dưới nền nhà phía bên phải trong phòng ngủ của T hướng từ ngoài vào (QT03); Thu giữ dưới nền nhà cạnh cửa ra vào phía bên trái hướng từ ngoài vào phòng ngủ của T 02 gói giấy màu trắng, kích thước trung bình mỗi gói 0,5 x 1,5cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (QT 04); Thu giữ dưới nền đất phía ngoài cửa sổ phòng ngủ của T 01 túi nilon màu trắng kích thước 6x8cm, bên trong có 09 gói giấy màu trắng, kích thước lần lượt mỗi gói 0,5 x 1,5cm, 1x3cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (QT05) và 01 túi nilon màu trắng kích thước 6x8cm, bên trong có 12 gói giấy màu trắng, kích thước trung bình mỗi gói 0,5 x 2cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (QT 06); Thu giữ trong người T số tiền 200.000 đồng; Thu giữ trong ví da màu đen trên giường trong phòng ngủ của T số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng.
Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng gửi cơ quan giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 318/KLGĐ-MT ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:
- Chất bột màu trắng của mẫu số 01 QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,11 gam, là loại Heroine
- Tinh thể màu trắng của mẫu số 02 QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,48 gam, là loại Methamphetamine
- Chất bột màu trắng của mẫu số 03 QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,09 gam, là loại Heroine
- Chất bột màu trắng của mẫu số 04 QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,09 gam, là loại Heroine
- Chất bột màu trắng của mẫu số 05 QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,69 gam, là loại Heroine
- Chất bột màu trắng của mẫu số 06 QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,26 gam, là loại Heroine
Ngày 10 tháng 5 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Đặng Văn T tại thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng, thu giữ trên bàn kính ở góc tường bên trái trong phòng ngủ của T: 01 cân tiểu ly màu nâu kích thước 6x4x0,5; 02 dao lam; 50 mảnh giấy màu trắng kích thước 4x4cm; 01 bìa cacton tông cứng kích thước 21x21cm, ngoài ra không thu giữ đồ vật, tài sản gì khác.
Tại Cơ quan điều tra:
Đặng Văn T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, nên vào khoảng 21 giờ ngày 09 tháng 5 năm 2021, T sử dụng số điện thoại 0344571329 gọi vào số điện thoại 0355466803 của 01 người đàn ông mà T thường xuyên mua ma túy hẹn ra khu cánh đồng thuộc thôn T1, xã Đ1. Khi đến nơi, T hỏi mua ma túy của người này với giá 3.000.000 đồng. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền và giao cho T 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 03 cục ma túy Heroine. T nhận ma túy và đi về nhà. Đến sáng ngày 10 tháng 5 năm 2021, T dùng dao lam chia nhỏ 02 cục Heroine thành 30 gói nhỏ, mục đích để bán cho người khác thu lợi, còn 01 cục Heroine T để lại, khi nào bán hết số Heroine đã chia thì tiếp tục chia nhỏ cục còn lại bán thu lợi. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, có một người nam giới T không quen biết đứng ngoài cửa phòng ngủ hỏi mua Heroine và đưa qua khe cửa tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, T nhận tiền và đưa 02 gói Heroine qua khe cửa cho người nam giới trên thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên. Người mua ma túy của T chạy thoát.
Đối với số ma túy đá bị thu giữ, T khai vào sáng ngày 08 tháng 5 năm 2021, T đi đến khu vực cánh đồng thôn L1, xã Đ1 gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua của người này ma túy đá với giá 600.000 đồng về để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.
Ngoài ra, T khai nhận vào các ngày 08 và 09 tháng 5 năm 2021, T bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ 02 lần, mỗi lần 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng tại nhà của T. T bán ma túy từ tháng 5 năm 2020 cho nhiều người nhưng cụ thể bán cho ai vào ngày nào với giá bao nhiêu thì Tuyến không nhớ.
Nguyễn Văn Đ khai: Đoàn mua ma túy của Đặng Văn T được khoảng hai đến ba tháng, mỗi ngày Đ mua của T một gói Heroine với giá 100.000 đồng để sử dụng. Vào buổi sáng các ngày 08 và 09 tháng 5 năm 2021, Đ mua của T mỗi ngày một gói Heroine giá 100.000 đồng, còn những lần mua ma túy trước đó của T, Đ không nhớ thời gian cụ thể. Trưa ngày 10 tháng 5 năm 2021, Đ đến nhà T để mua ma túy về sử dụng nhưng chưa kịp mua thì chứng kiến việc T bán ma túy bị lực lượng Công an bắt giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo khai số tiền mua ma túy do bị cáo lao động mà có; số tiền 2.200.000 đồng bị thu giữ (trong đó bao gồm: 200.000 đồng bị cáo bán ma túy vào ngày bị bắt, 200.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ vào các ngày 08, 09 tháng 5 năm 2021, 1.800.000 đồng bị cáo bán ma túy từ các ngày trước bị cáo không nhớ cụ thể); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng và một ví da màu đen là của bị cáo, bị cáo đã sử dụng điện thoại di động Nokia màu đen để liên lạc về việc mua bán ma túy. Một cân tiểu ly màu nâu, 02 dao lam, 50 mảnh giấy màu trắng, 01 bìa cacton tông cứng Cơ quan Công an thu giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo là dụng cụ bị cáo dùng để chia nhỏ ma túy bán cho khách.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-AD ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện A truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5, Điều 251; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 09 năm tù đến 10 năm tù về tội: "Mua bán trái phép trái phép chất ma túy". Phạt tiền bị cáo Đặng Văn T từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 cân tiểu ly màu nâu, 02 con dao lam; 50 mảnh giấy trắng, 01 bìa cacton cứng; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 2.200.000 đồng; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo Đặng Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng Nguyễn Văn Đ, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 318/KLGĐ-MT ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 10 tháng 5 năm 2021, bị cáo Đặng Văn T đã có hành vi cất giấu 4,72 gam ma túy (trong đó gồm: 3,24 gam Heroin và 1,48 gam Methamphetamine) nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời và bán trái phép chất ma túy bị bắt quả tang. Bị cáo còn có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn Đ hai lần, mỗi lần 01 gói Heroin giá 100.000 đồng vào các ngày 08 và 09 tháng 5 năm 2021 tại nhà ở của bị cáo ở thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng. Theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính Phủ thì Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, STT 09; Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, STT 323 danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Bị cáo Đặng Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi cất giấu ma túy với mục đích bán cho người khác và bán trái phép chất ma túy của bị cáo Đặng Văn T đã phạm vào tội:“Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Đặng Văn T đã có hành vi cất giấu ma túy với mục đích bán cho người khác và bán trái phép chất ma túy bị bắt quả tang ngày 10 tháng 5 năm 2021, bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn Đ 02 lần mỗi lần 01 gói Heroine vào các ngày 8 và 09 tháng 5 năm 2021. Nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma tuý đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, là hiểm họa đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn T là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng, Huy hiệu Chiến sỹ Trường Sơn nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Đặng Văn T thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất vụ lợi, song bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn: Không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên chỉ phạt bổ sung bị cáo mức phạt 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Lượng ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, 01 cân tiểu ly màu nâu, 02 dao lam, 50 mảnh giấy trắng, 01 bìa cacton cứng là dụng cụ bị cáo dùng để chia ma túy để bán có giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 2.200.000 đồng là số tiền bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Một ví da màu đen, một điện thoại di động Iphone màu vàng, một điện thoại di động Nokia màu đen thuộc sở hữu của bị cáo; bị cáo sử dụng điện thoại di động Nokia màu đen để liên lạc về việc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước; một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng và một ví da màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, một ví da màu đen, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo theo Biên bản giao nhận ngày 28 tháng 11 năm 2021 nên Tòa không giải quyết.
Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0355466803 bán ma túy cho bị cáo Đặng Văn T ở khu vực thôn T1, xã Đ1, huyện A, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã có Văn bản gửi Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội Viettel đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao và chi tiết cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn đối với số thuê bao điện thoại 0344571329, 0355466803 liên lạc từ ngày 25 tháng 4 năm 2021 đến 11 giờ ngày 10 tháng 5 năm 2021, nhưng chưa có kết quả. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Đặng Văn T tại cánh đồng thôn L1, xã Đ1, huyện A, thành phố Hải Phòng, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A chưa có căn cứ xử lý, tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Đối với Nguyễn Văn Đ đến mua ma túy của Đặng Văn T mục đích để sử dụng, chưa đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về án phí: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn T có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 09 (Chín) năm tù về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù của bị cáo Đặng Văn T tính từ ngày 10 tháng 5 năm 2021. Phạt bổ sung bị cáo Đặng Văn T 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 cân tiểu ly màu nâu, 02 dao lam, 50 mảnh giấy trắng, 01 bìa cacton cứng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 2.200.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 12 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện A)
Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án nhân dân TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A;
- Phòng PV 06 CATP;
- Phòng PC 10 CATP; Sở Tư pháp HP;
Trương Minh Huế
- Chi cục Thi hành án huyện An Dương;
- Bị cáo;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Minh
Bùi Thị Nhàn
Trương Minh Huế
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. Hải Phòng; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương; - Phòng PV 06 CATP; - Phòng PC 10 CATP; Sở Tư pháp HP; - Chi cục Thi hành án huyện An Dương; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Minh Huế |