vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lại Phú L 11 (mười một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/9/2021.

Về vật chứng: * Tịch thu tiêu huỷ: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Phú L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lại Phú L 11 (mười một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/9/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2022/HS- ST
Ngày 18-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Thiện

Ông Nguyễn Quốc Sửu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên .

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2021/TLST- HS ngày 28 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lại Phú L, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1976

Tên gọi khác: không; nơi cư trú: thôn Ng, xã S, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lại Phú Đ và bà: Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị L; con: có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án: không; tiền sự: không.

- Bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện T, tỉnh B ( có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 (có mặt)

Nơi cư trú: thôn Ng, xã S, huyện T, tỉnh B;

- Anh Phạm Văn Kh, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Ng, huyện T, tỉnh B.

* Người làm chứng:

- Anh Đoàn Văn Ch, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn V, xã C, huyện T, tỉnh B;

- Anh Nguyễn Mạnh D, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Ng, xã C, huyện T, tỉnh B;

- Ông Nguyễn Thế Ph, sinh năm 1956 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Ng, huyện T, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng giữa tháng 9/2021, Lại Phú L, sinh năm 1976 trú tại thôn Ng, xã S, huyện T, tỉnh B đã hỏi mua ma túy của Phạm Văn Kh, sinh năm 1979 trú tại thôn Đ, xã Ng, huyện T, tỉnh B nhưng Kh không có ma túy. Khoảng 07 giờ sáng ngày 22/9/2021, L thấy cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại 0979.798.836 của Kh gọi vào số điện thoại 0985.154.168 của L, L gọi lại cho Kh thì Kh nói với L “hàng rẻ lắm, anh lấy không”, nên L hỏi “rẻ là bao nhiêu tiền” Kh nói “sáu triệu hai túi ma túy tổng hợp”, (ý là Kh hỏi L có mua 02 gói ma túy tổng hợp dạng hồng phiến với giá là 6.000.000 đồng không). L nói với Kh để L chạy tiền, Kh nói khi nào có ma túy Kh sẽ gọi cho L đến nhà Kh lấy. Đến khoảng 15 giờ ngày 22/9/2021, Kh điện thoại cho L bảo có hàng rồi và bảo L sang lấy, L cầm số tiền 5.570.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-382.34 từ nhà đi đến nhà Kh nhưng Kh không có nhà, L đi đến khu vực ven đường tỉnh lộ 295, thuộc địa phận thôn Đ, xã Ng, huyện T thì gọi điện thoại cho Kh hỏi Kh đang ở đâu thì Kh chỉ đường cho L đi vào đoạn đường cạnh Công ty Cổ phần thương mại sản xuất Việt L để gặp Kh, lúc này khoảng 16 giờ 30 phút. Tại đây, Kh đưa cho L 01 gói giấy màu trắng được buộc bằng dây chun nịt và nói "bên trong có một ít đá, anh cầm về để đấy tối em qua, giờ em bận đi đám ma, tối em qua có gì thanh toán" L biết bên trong gói giấy màu trắng có ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và ma túy đá nên cầm gói ma túy để lên yên xe mô tô và ngồi lên rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi L đi đến đoạn đường tiếp nối với đường tỉnh lộ 295 thì bị lực lượng Công an huyện T phối hợp với Công an xã Ng, huyện T kiểm tra, khi thấy lực lượng Công an do hoảng sợ nên L đã bị đổ xe mô tô, gói ma túy rơi xuống mặt đất tại chỗ L bị kiểm tra. Công an huyện T đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:

- Thu giữ tại mặt đất ven đường tỉnh lộ 295 thuộc thôn Đ, xã Ng, huyện T, tỉnh B 01 gói giấy màu trắng, được buộc lại bằng dây chun nịt bên trong có: 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, có đường viền màu đỏ, bên trong đựng các viên nén hình tròn, màu hồng đỏ và xanh nghi là ma túy; 01 túi nilon màu hồng, một đầu có rãnh khóa nhựa, bên ngoài có chữ “A” bên trong đựng các viên nén hình tròn màu hồng đỏ, màu xanh nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Các túi nilon trên được buộc lại với nhau bằng dây chun nịt được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”.

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Lại Phú L đang mặc 01 ví da màu nâu, bên trong có: 01 chứng minh thư nhân dân số 121296746 mang tên Lại Phú L; 01 đăng ký xe mô tố số 010185 mang tên Lại Phú L 1976, biển số đăng ký 98D1-382.34; Số tiền 5.570.000 đồng;

- Thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, số khung 3206EY029950, số máy JA32E1064416, biển kiểm soát 98D1-382.34.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Seri 353299053647724, lắp sim điện thoại số 0985.154.168, máy cũ đã qua sử dụng.

Cùng ngày 22/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lại Phú L tại thôn Ng, xã S, huyện T, tỉnh B. Kết quả khám xét thu giữ:

- Thu giữ trong lõi gối bông màu xanh có họa tiết hoa màu trắng tại giường ngủ sau tủ quần áo trong nhà Lại Phú L 01 gói được bọc bằng khẩu trang y tế, được quấn lại bằng dây khẩu trang, bên trong có 01gói giấy màu trắng, bên trong đựng: 01 túi nilon màu hồng, có rãnh khóa bằng nhựa, một mặt có chữ “A”, bên trong túi đựng các viên nén hình tròn màu hồng đỏ và màu xanh nghi là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến; 01 gói giấy màu trắng, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX1”.

- Thu giữ trong lõi gối màu xanh của chiếc gối có vỏ màu vàng tại giường ngủ sau tủ quần áo trong nhà Lại Phú L số tiền 70.000.000 đồng, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX2”.

Sau khi bị bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã test nhanh ma túy đối với L, kết quả L dương tính với ma túy tổng hợp.

Căn cứ vào lời khai của Lại Phú L, cùng ngày 22/9/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn Kh, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Tại Kết luận giám định số 1505/KL-KTHS ngày 27/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:

5.1. Trong phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

* Trong 01 gói giấy màu trắng được buộc lại bằng dây chun nịt, bên trong có 03 (ba) túi nilon được buộc lại bằng dây chun nịt: Các viên nén hình tròn, màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và đường viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 18,003 gam, loại Methamphetamine. Các viên nén hình tròn, màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên ngoài có chữ “A” đều là ma túy, có tổng khối lượng 14,164 gam, loại Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 4,533 gam, loại Methamphetamine.

5.2. Trong phong bì ký hiệu “KX1” đã được niêm phong gửi giám định:

+ Trong 01 (một) gói được bọc bằng khẩu trang y tế, quấn lại bằng dây khẩu trang, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng: Các viên nén hình tròn, màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, một mặt có chữ “A” đều là ma túy, có tổng khối lượng 15,207 gam, loại Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa (tất cả đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng) là ma túy, có khối lượng 10,633 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Lại Phú L đã khai nhận về nguồn gốc số ma túy mà Công an thu giữ khi khám xét khẩn cấp cụ thể như sau: Buổi chiều tối một ngày giữa tháng 9/2021, Phạm Văn Kh đến nhà L chơi, trước khi về Kh có đưa cho L 01 gói ma túy được bọc bằng khẩu trang y tế bảo L cất hộ, L đồng ý cầm gói ma túy cất giấu trong lõi gối, mấy hôm sau Kh có gọi điện thoại cho L bảo L có lấy gói ma túy đó không Kh để cho giá 6.500.000 đồng, do Kh còn nợ L 2.000.000 đồng nên L đồng ý mua số ma túy của Kh, số ma túy đó L đã sử dụng còn lại L cất giấu trong lõi gối bị Công an thu giữ.

Tại Cáo trạng số: 02/CT- VKS ngày 27/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Lại Phú L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 3, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lại Phú L từ 11 năm đến 11 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/9/2021. Về hình phạt bổ sung: 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L trình bày: chị là vợ của bị cáo L, bị cáo mua ma túy về cất giấu tại nhà chị không biết. Chiếc xe máy bị cáo L sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy ngày 22/9/2021 chị không biết, chiếc xe máy bị thu giữ là tài sản chung của vợ chồng chị. Đối với số tiền 70.000.000 đồng thu giữ trong lõi gối là tiền của con trai chị đi xuất khẩu lao động gửi về cho bố mẹ. Đến nay chị đề nghị cho gia đình được xin lại số tiền 70.000.000 đồng và chiếc xe máy để lấy phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Kh và những người làm chứng anh Ch, anh D, ông Ph đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên họ đã có lời khai trong quá trình điều tra. Sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo có mặt đã hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, phù hợp lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ do Cơ quan điều tra thu thập về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 9/2021 đến ngày 22/9/2021, Lại Phú L - sinh năm 1976, trú tại thôn Ng, xã S, huyện T, tỉnh B đã 02 lần có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng cộng 62,54 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng, cụ thể:

Lần 1: Vào một ngày giữa tháng 9/2021, tại nhà ở của Lại Phú L ở thôn Ng, xã S, huyện T, tỉnh B, Lại Phú L đã có hành vi tàng trữ trái phép 25,84 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng.

Lần 2: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 22/9/2021, tại đoạn đường đất tiếp nối vào tỉnh lộ 295 thuộc địa phận thôn Đ, xã Ng, huyện T, tỉnh B, Tổ công tác của Công an huyện T phối hợp với Công an xã Ng, huyện T kiểm tra, bắt quả tang Lại Phú L đang có hành vi tàng trữ trái phép 36,7 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã tàng trữ trái phép 62,54 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: bị cáo L là người có nhân thân tốt.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 9/2021 đến ngày 22/9/2021, Lại Phú L đã 02 lần có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lần 1 tàng trữ trái phép 25,84 gam ma túy Methamphetamine, lần 2 tàng trữ trái phép 36,7 gam ma túy Methamphetamine. Tổng cộng 62,54 gam ma túy Methamphetamine nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo hình phạt tù tương xứng nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo có thu nhập nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo.

Đối với anh Phạm Văn Kh cơ quan điều tra đã đấu tranh với Phạm Văn Kh nhưng Kh không thừa nhận bán ma túy cho L như L đã khai; Kh chỉ thừa nhận số điện thoại 0979.798.836 đăng ký tên chủ thuê bao là Phạm Văn S (là em trai Kh) S đã cho Kh sử dụng số điện thoại này từ năm 2018 đến nay. Ngày 22/9/2021, L có gọi điện thoại rủ Kh đi chơi nhưng Kh không đi. Cơ quan điều tra cho L đối chất với Kh nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của L ra không có tài liệu nào khác chứng minh Kh bán ma túy cho L nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Phạm Văn Kh.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lại Phú L, ngày 08/12/2021 Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng.

Đối với chị Nguyễn Thị L là vợ của Lại Phú L không biết việc L đi mua ma túy và cất giấu ma túy tại nhà nên chị L không vi phạm pháp luật.

Đối với số tiền 70.000.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp là tiền của con trai L đi xuất khẩu lao động gửi về cho vợ chồng L không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo L nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Về vật chứng:

* 01 phong bì ký hiệu “QT” bên trong có 01 gói giấy màu trắng được buộc lại bằng dây chun nịt, bên trong có 03 (ba) túi nilon được buộc lại bằng dây chun nịt:

- Mẫu viên nén màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và đường viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 16,499 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

- Mẫu viên nén màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên ngoài có chữ “A” đều là ma túy, có tổng khối lượng 12,994 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

- Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 4,004 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

* 01 phong bì ký hiệu “KX1” bên trong có 01 (một) gói được bọc bằng khẩu trang y tế, quấn lại bằng dây khẩu trang, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng:

- Mẫu viên nén hình tròn, màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, một mặt có chữ “A” đều là ma túy, có tổng khối lượng 13,768 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

- Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa (tất cả đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng) là ma túy, có khối lượng 9,606 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

Phong bì được niêm phong lại bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, số khung 3206EY029950, số máy JA32E1064416, biển kiểm soát 98D1-382.34 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Seri 353299053647724, lắp sim điện thoại số 0985.154.168, máy cũ đã qua sử dụng là điện thoại của L sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc ví da màu nâu, 01 chứng minh thư nhân dân số 121296746 mang tên Lại Phú L là tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo L nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 đăng ký xe mô tố số 010185 mang tên Lại Phú L, biển số đăng ký 98D1-382.34 cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 5.570.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang là tiền L mang đi để mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử phạt: Bị cáo Lại Phú L 11 (mười một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/9/2021. Phạt bổ sung bị cáo L 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

2. Về vật chứng:

* Tịch thu tiêu huỷ:

- 01 phong bì ký hiệu “QT” bên trong có 01 gói giấy màu trắng được buộc lại bằng dây chun nịt, bên trong có 03 (ba) túi nilon được buộc lại bằng dây chun nịt:

+ Mẫu viên nén màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và đường viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 16,499 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

+ Mẫu viên nén màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên ngoài có chữ “A” đều là ma túy, có tổng khối lượng 12,994 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

+ Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 4,004 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

- 01 phong bì ký hiệu “KX1” bên trong có 01 (một) gói được bọc bằng khẩu trang y tế, quấn lại bằng dây khẩu trang, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng:

- Mẫu viên nén hình tròn, màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, một mặt có chữ “A” đều là ma túy, có tổng khối lượng 13,768 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

- Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa (tất cả đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng) là ma túy, có khối lượng 9,606 gam, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

Các phong bì đều được niêm phong lại bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định.

* Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Seri 353299053647724, lắp sim điện thoại số 0985.154.168, máy cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, số khung 3206EY029950, số máy JA32E1064416, biển kiểm soát 98D1-382.34 và 01 đăng ký xe mô tố số 010185 mang tên Lại Phú L, biển số đăng ký 98D1-382.34 và số tiền 5.570.000 đồng tại tài khoản của kho bạc nhà nước huyện Tân Yên.

* Trả lại cho bị cáo L 01 chiếc ví da màu nâu; 01 chứng minh thư nhân dân số 121296746 mang tên Lại Phú L.

- Số tiền 70.000.000 đồng tại tài khoản của kho bạc nhà nước huyện Tân Yên nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về án phí: bị cáo Lại Phú L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt (hoặc niêm yết ) bản án./.

Cỡ chữ